Quách Phong và bức tranh Sài Gòn Giải Phóng

Ấn tượng về họa sĩ Quách Phong (Quách Văn Phong hay Nguyễn Anh Việt) là một người khiêm nhường, giản dị với những bức tranh sơn mài có bút pháp mạnh mẽ thể hiện đề tài “Chiến tranh cách mạng”, trong đó tác phẩm “Sài Gòn giải phóng” là một điểm nhấn trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam khiến người ta nhớ đến vào dịp 30 tháng 4 năm 1975, kỷ niệm ngày chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Sinh ra trong một gia đình kháng chiến có truyền thống cách mạng ở tỉnh Vĩnh Long miền Tây Nam Bộ, gia đình đã cho ông theo học ở trường Mỹ thuật Gia Định, ông tham gia đấu tranh trong phong trào sinh viên vẽ truyền đơn. Năm 1955 ông được đưa ra Bắc học khóa hai hệ trung cấp tại trường Mỹ thuật Việt Nam nay là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (42 Yết Kiêu – Hà Nội) sau được tuyển thẳng lên hệ cao đẳng, học đến năm thứ 3 (tình hình cách mạng nước ta đến hồi ác liệt), 1963 khi 25 tuổi Quách Phong xung phong nhập ngũ vượt Trường Sơn trở về quê hương chiến đấu.

Được tổ chức phân công về Quân khu chiến khu Bác Ái – Ninh Thuận, lấy bí danh là Nguyễn Anh Việt với nghĩa là Việt Nam anh hùng, họa sĩ Quách Phong sống, làm việc, chiến đấu cùng các chiến sĩ, đồng bào.

Thời kỳ này các sang tác của họa sĩ chủ yếu là ký họa, tranh cổ động phục vụ chiến đấu. Ông đi khắp các chiến trường, bên cạnh ba lô, cây súng còn bút, giấy màu, có điều kiện là ông vẽ trực tiếp về chiến sĩ, đồng bào trong sản xuất, chiến đấu, vẽ những tấm gương điển hình tiên tiến. Họa sĩ đã vẽ hàng nghìn bức ký họa, ông tổ chức nhiều triển lãm lưu động, bày tranh tại trận cho bà con, chiến sĩ xem, các tác phẩm của ông có tác động rất lớn động viên tinh thần chiến đấu.

Năm 1973, Nguyễn Anh Việt từ chiến trường ra Hà Nội hoàn thành nốt chương trình cao đẳng mỹ thuật tại trường cũ. Một cơ duyên đã dẫn họa sĩ đến với sơn mài, chất liệu truyền thống dân tộc. Họa sĩ Nguyễn Văn Tâm (trước là bạn đồng học nay là thầy) chỉ cho Quách Phong vẽ tranh sơn mài. Năm 1974 ông được cử đi nghiên cứu sinh ở Bungari, khi Bộ Đại học mời ông lên nhận hộ chiếu thì nghe tin quân ta đánh tới Đà Nẵng, Quách Phong bỏ cơ hội học sau đại học trở về miền Nam để dự trận đánh lịch sử mà ông vẫn nói vui là cho trọn vẹn bộ sưu tập của chiến tranh. Chính vì vậy ông đã được tham gia, chứng kiến trận 30 tháng 4 lịch sử, giây phút Sài Gòn giải phóng, để sáng tác thành công tác phẩm Nắng Tháng Năm (bột màu), vẽ ngay đêm 30/4/1975 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Sài gòn giải phóng (Sơn mài) trưng bày tại Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông – Quân khu 7.

Giải phóng sài gòn - Quách Phong
Giải phóng sài gòn – Quách Phong

Có thể nói bức Nắng tháng Năm là bức ký họa cuối cùng trong tập ký họa về chiến trường của Quách Phong. Khi bộ đội tiến về giải phóng Sài Gòn vào 30/4/1975, kết thúc ngày cuối của tháng 4, tác giả chọn thời điểm vào tháng năm là ngày hôm sau, ngày mai tươi sáng khi thành phố hoàn toàn giải phóng. Trung tâm bức tranh là các chiến sĩ trang phục màu xanh ngồi trên xe tăng bên tháp pháo, xung quanh, trên trời là những lá cờ đỏ sao vàng, cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng tung bay tạo không khí rộn rã, tưng bừng, xốn xang. Những tà áo dài trắng của các nữ sinh (một hình ảnh rất đặc trưng của Sài Gòn) tung bay ngời sáng, mấy nữ du kích, tự vệ đội mũ tai bèo nét mặt hồ hởi. Ánh sáng như nhảy múa được họa sĩ thể hiện qua các đường chạy của mảng sáng tối tạo cảm giác về niềm vui náo nức của ngày giải phóng. Cũng chủ đề này Quách Phong đã tiến tới một bố cục công phu hơn để vẽ bức sơn mài Sài Gòn giải phóng mà 7 năm sau ông mới hoàn thành. Trung tâm bức tranh là cảnh gặp gỡ giữa người dân và chiến sĩ giải phóng. Phía bên trái là cô nữ sinh đi xe đạp tay giơ cao như vẫy chào, cậu thiếu niên cầm chum bóng, bên phải bức tranh là hai cô gái mặc áo dài hoa quay mặt vào nhau, xen giữa là gương mặt nữ chiến sĩ giải phóng. Hai em bé tay cầm vòng nhảy múa. Phía đằng sau các chiến sĩ ngồi trên xe tăng giơ tay chào đón. Góc phải bức tranh trên ô tô tải, bộ đội cúi người giơ tay vẫy những người dân chào đón đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ tung bay trên tháp pháo, bay rợp trời. Phía trên là hình ảnh Bác Hồ như ẩn hiện… khác với bức Nắng Tháng Năm thể hiện niềm vui háo hức, bừng lên thì ở Sài Gòn giải phóng lại có độ trầm sâu (có thể do hiệu quả chất liệu). Họa sĩ thể hiện góc nhìn ở nhiều điểm khác nhau tạo sự mở cho bố cục, làm bức tranh vừa hiện thực vừa khái quát.

Sau này, họa sĩ Quách Phong tham gia công tác là Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Hội đồng giám khảo của Hội, các cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần), cuộc thi và triển lãm mỹ thuật ASEAN do Bộ Văn hóa tổ chức. Bức tranh Sài Gòn giải phóng cùng với Mùa gặt mới ở Củ Chi, Xuống đường Mậu Thân 1968 là các tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Quách Văn Phong được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007”.

Khiêm nhường và kiên định, họa sĩ Quách Phong xác định lý tường thẩm mỹ của mình là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Các tác phẩm của ông là sự lao động cần cù bền bỉ của một chiến sĩ, họa sĩ đã góp lao động, xương máu cho sự nghiệp cách mạng, là một chiến sĩ văn hóa góp phần cho sự nghiệp giải phóng quê hương. 40 năm qua, tác phẩm sơn mài Sài Gòn giải phóng là một điểm nhấn, là sự đóng góp của hội họa đối với lịch sử.

Trần Thị Quỳnh Như

Họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988)

BÙI XUÂN PHÁI (sinh ngày 1- 9- 1920, mất ngày 24- 6- 1988 tại Hà Nội) quê ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông theo học tại Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá XV (1941 – 1946); hội viên ngành hội hoạ Hội Mĩ thuật Việt Nam từ 1957.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái
Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bùi Xuân Phái tham gia Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội; hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền ở Liên khu III và Việt Bắc (1947- 1952); viết báo và minh hoạ báo tại Hà Nội (1952 – 1954); giảng viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam (1956 – 1957); hoạ sĩ tổ sáng tác Hội Mĩ thuật Việt Nam. Trong quá trình sáng tác ông đã được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Xem tranh của ông, người ta phát hiện ra một đời sống tinh thần riêng đầy quyến rũ của những khu phố cổ Hà Nội, một phong cách riêng, thường được gọi là “Phố Phái”. 

Trước giờ biểu diễn - Bùi Xuân Phái
Trước giờ biểu diễn – Bùi Xuân Phái



Trong sự nghiệp của mình, ông không chỉ vẽ về phố mà còn vẽ nhiều đề tài về nghệ thuật chèo, về nông thôn, về vùng mỏ, chân dung… Ở mỗi đề tài, ông đều để lại những tác phẩm tiêu biểu và được đánh giá cao. Ông đã có 6 triển lãm cá nhân tại Hà Nội. Đã có nhiều cuốn sách viết về ông, gần đây nhất có mấy bộ sách “Bùi Xuân Phái – cuộc đời và tác phẩm” do NXB Mĩ thuật in của hai tác giả là hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (con trai ông) và nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn. Bộ sách đã tập hợp tương đối đầy đủ các tư liệu về cuộc đời nghệ thuật của Bùi Xuân Phái. Hiện nay, tranh của ông được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và trong nhiều bộ sưu tập cá nhân trong và ngoài nước. Riêng ngôi nhà của ông, số nhà 87 phố Thuốc Bắc, Hà Nội được coi như một bảo tàng nhỏ, trưng bày những tác phẩm của ông và con ông. 

Phố hàng Mắm - Bùi Xuân Phái
Phố hàng Mắm – Bùi Xuân Phái


Tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được tặng giải thưởng tại Triển lãm Mĩ thuật tháng Tám năm 1946; Giải Nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc năm 1980; Giải thưởng Triển lãm Đồ hoạ tại Leipzig- Đức; Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật Thủ đô các năm 1969, năm 1981, năm 1983 và năm 1984.

Năm 1996 hoạ sĩ Bùi Xuân Phái được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm: Hà Nội kháng chiến – Sơn dầu- 90x110cm (1954); Vợ chồng chèo – Sơn dầu (1967); Sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Hóa trang sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Xe bò trong phố cổ – Sơn dầu (1972); Phố cổ Hà Nội – Sơn dầu (1972); Phố vắng – Sơn dầu (1981); Trước giờ biểu diễn – Sơn dầu- 60x80cm (1984).

Nhớ Văn Cao

Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi trong lần họp Đại hội Nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV là được gặp và vẽ họa sĩ tài danh Văn Cao. Ông vốn là một nghệ sĩ đa tài được mệnh danh là “Cầm, kỳ, thi, họa”, là một nghệ sĩ hiếm hoi của Việt Nam mà bước lãng du nghệ thuật lĩnh vực nào cũng để dấu ấn sâu đậm.

Tháng 12/1994. Đại hội đại biểu nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV họp tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, với hơn 300 đại biểu đại diện cho hơn 1.100 hội viên dự. Họp tới ngày thứ hai, tôi mới thấy Văn Cao trên hàng ghế đầu. Ngay lập tức tim tôi rung lên. Một ông già nhỏ bé với đôi mắt sâu đen thẫm, mái tóc bạc như sương ấy thu hút tôi kỳ lạ.

Nghe danh ông đã lâu, lại học ở cùng phố có nhà của ông (Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội ở phố Yết Kiêu) song có lẽ do mặc cảm mình quá nhỏ bé trước ông nên tôi chưa một lần dám gặp. Giờ giải lao, ông được một phụ nữ cũng cao tuổi, tóc bạc nhưng còn khỏe đỡ ông đi ra sân, đó là bà Băng – vợ ông. Tranh thủ lúc mọi người đang tìm nhau hàn huyên, tôi lách đến bên bà và xin phép được hỏi thăm ông. Sau vài lời giới thiệu, tôi hát khe khẽ để ông và vợ ông nghe:

“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau ven rừng âm u…”. Mắt ông sáng lấp lánh khi nghe tôi say sưa hát; có lẽ ông hơi ngạc nhiên vì không ngờ anh chàng họa sĩ “tỉnh lẻ” như tôi ở xa tít tận Đà Lạt lại thuộc bài hát của ông đến thế. Có nhiều họa sĩ thấy vậy cũng kéo đến hòa giọng hát với tôi: “Trên dòng sông trở về đoàn người, reo mừng vui trên sóng nước biếc…”. Có lẽ tới mấy “bè” vì không phải ai cũng thuộc bài Sông Lô. Hát xong tôi chợt nghĩ: “Phải có một tấm hình kỷ niệm với ông”. ý nghĩ ấy lóe lên và tôi nhờ họa sĩ Hoài Phi (Tp. Hồ Chí Minh) chụp giúp, đông người đến chụp cạnh ông và tôi. Phải 7 năm sau tấm ảnh này mới đến tay tôi. Tôi không thể ngờ được rằng đây là tấm ảnh quý giá mà tôi có vì chỉ 8 tháng sau (7/1995) ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của đông đảo người yêu âm nhạc và nghệ thuật cả nước.

Hết giờ giải lao mọi người vào. Tôi cùng bà Băng đỡ ông vào ngồi. Tôi không còn chú ý đến cuộc họp nữa mà lao vào vẽ chân dung ông. Bức chân dung phấn màu tôi còn giữ đến nay kể cả chữ ký của ông thật quý giá với tôi.

Sự nghiệp thơ – nhạc – họa Văn Cao thật đồ sộ, song tôi vẫn cho rằng thơ và nhạc ông thành công hơn cả. Không phải bất cứ nhạc sĩ nào trong cuộc đời mình cũng được dân tộc tôn vinh một bài hát để trở thành Quốc ca. Ông đã viết bài Tiến quân ca ở Hà Nội trong những ngày mới tìm đến cách mạng và được Quốc hội khóa 1 công nhận là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước đó nhiều ca khúc đã mang lại cho ông sự ngưỡng mộ của công chúng âm nhạc. Nếu ca khúc Buồn tàn thu ông viết ngay từ khi mới 18 tuổi (1941) còn hơi hướng nghệ sĩ lãng mạn thì những Thiên thu, Trương Chi, Suối mơ ông đã đổi mới sáng tác, cách tân về giai điệu, khúc thức và hướng về âm nhạc dân tộc.

Sau Tiến quân ca, ông cùng Nguyễn Đình Thi hẹn nhau viết 2 bài hát cho Việt Minh kháng Nhật; Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít còn ông với ca khúc Chiến sĩ Việt Nam. Một loạt các ca khúc cách mạng khác của ông đều mang dấu ấn rõ nét: Tiếng gọi công nhân, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Tiến về Hà Nội, Bắc Sơn, đặc biệt là Trường ca sông Lô… là những ca khúc hùng tráng, nhưng vẫn mang phong cách thư thái, đĩnh đạc của tâm hồn con người Việt Nam.

Với hội họa, Văn Cao tham gia triển lãm Salon Unique (duy nhất) 1944 tại Hà Nội với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Nhiều bài báo đã nhắc đến 3 tác phẩm này với lời nhận xét trân trọng.

Nhận xét về hội họa Văn Cao, Thái Bá Vân – nhà phê bình mỹ thuật Việt Nam viết:

“ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh… Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: Chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sĩ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa… Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc… Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát…”.

Trong lời vĩnh biệt nghệ sĩ đa tài Văn Cao, giáo sư – nhạc sĩ Thế Bảo viết:

“Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

Cuộc đời người nghệ sĩ đa tài lắm truân chuyên ấy qua bao thăng trầm. Rất may sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, trong không khí đổi mới của văn nghệ, những “Đêm nhạc Văn Cao” được tổ chức liên tục ở thành phố Hồ Chí Minh (1986) và Chương trình nhạc Văn Cao tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Hà Nội (1987)… Công chúng yêu âm nhạc ở Thủ đô và cả nước thật bồi hồi xúc động lắng nghe những ca khúc mượt mà, hùng tráng của ông được trình diễn.

Ngày ông mất, Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng cũng tổ chức lễ tưởng niệm ông tại 18 Lê Hồng Phong – Đà Lạt. Trong không khí trang trọng sâu lắng, tôi cùng nhạc sĩ Mạnh Đạt hát bài Trường ca sông Lô và tất cả những người dự đã cùng hát trong âm hưởng bi tráng.

Vi Quốc Hiệp

Bức tranh “Phù Vân” của Trần Quang Trân

Trong lịch sử hội họa Việt Nam hiện đại, Trần Quang Trân là một họa sĩ có một vị trí đặc biệt.

Bức bình phong “Bụi tre bóng nước” (1932, sáu cánh, mỗi cánh 110x25cm) của Trần Quang Trân đã được xem là bằng chứng đầu tiên khẳng định phẩm chất “hội họa” đích thực của cái gọi là “tranh sơn mài Việt Nam”.

Trong cuốn hồi ký (chưa bao giờ xuất bản) của ông, Trần Quang Trân cũng đã gọi bức tranh đó là một “phát minh”.

Bức tranh “Phù Vân”

Trên thực tế, Trần Quang Trân để lại rất ít tác phẩm. Ngoài một số tranh sơn dầu, thuốc nước, mực nho, ký họa chì than, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được bất cứ một bức tranh sơn mài nào khác của ông. Ngay bức “Bụi tre bóng nước”, bức sơn mài đầu tiên đã kể trên, trước thuộc bộ sưu tập của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cũng đã bị thất lạc đi đâu mất trong thời gian đầu kháng chiến chống Pháp.

Bởi vậy, bức tranh “Phù vân” giới thiệu ở đây, vốn thuộc sưu tập của họa sĩ Năng Hiển (Duy Nhất), nay thuộc sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Hà Nội, cũng thuộc hàng “của hiếm”, khi tìm về sự nghiệp hội họa của Trần Quang Trân.

Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân
Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân

Đôi nét về Trần Quang Trân

Họa sĩ Trần Quang Trân (1900-1969), bút danh “Ngym”, sau đổi thành “Nghi Am”. Sinh ở huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông đã từng tham dự kỳ thi hương cuối cùng ở Bắc Kỳ (1915). Một thời gian làm thư ký Tòa sứ Tuyên Quang.

Tốt nghiệp Trường Thương mại, ông làm việc tại Sở dầu Hải Phòng và Nhà máy đèn Đáp Cầu.

1927-1932, ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 3. Nhờ có biết chữ Nho, ông làm trang trí rất đẹp (giải thưởng áp phích Đấu xảo Paris 1931). Đi vẽ ở Lào Cai (1929), ở Thanh Hóa, Nghệ An (1930).

Học nghề sơn ta qua nghệ nhân Đinh Văn thành, kết hợp nghiên cứu đồ sơn ở Viện Viễn Đông Bác Cổ, Trần Quang Trân đã sử dụng vàng quỳ rây vụn (bột vàng) và bột son trên nhiều lớp sơn, qua khâu mài, để tạo ra các sắc độ và ánh sáng. Đây chính là kỹ thuật nền tảng để sau đó các họa sĩ Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Gia Trí đã hoàn thiện và đẩy lên thành kỹ thuật sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie), làm nên một thời kỳ vàng son của hội họa sơn mài Việt Nam.

Ra trường, tại Hà Nội, ông mở xưởng sơn mài ở 87 phố Charron (nay là phố Mai Hắc Đế) và ở phố Tố Tịch, làm hàng và sửa chữa đồ cũ, đồng thời sáng tác một số tác phẩm trên đồ vị lợi, vẽ minh họa và phụ bản cho một số báo: “Bắc Kỳ Thể thao”, “Đông Tây”, “Tiểu thuyết Thứ Bảy”, “Cậu ấm”, “Vịt đực”. Đầu thập niên 1940, ông dạy vẽ ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long và từ 1949 ở Trường Mỹ nghệ.

1958-1962, Trần Quang Trân làm việc tại Xưởng phim truyện Việt Nam, Xưởng phim hoạt hình Việt Nam và tham gia giảng dạy tại Trường Điện ảnh Việt Nam.

Là một họa sĩ, nhưng Trần Quang Trân luôn luôn có phong thái của một nhà nho. Ông có sở thích vẽ sư sãi, các công trình kiến trúc cổ, cây cối, mặt nước, với bút pháp ngả về cổ điển. Bức tranh “Phù vân” là một thử nghiệm khá lạ của Trần Quang Trân, khi ông kết hợp kỹ thuật vẽ thuốc châu Âu với kỹ thuật đồ họa thư pháp Á Đông, để tạo ra được một kiểu không gian hư ảo như tiên giới, không Tàu mà cũng chẳng Tây, mang đậm một cảm thức thiền, gần gũi, không xa cách.

“Một Quãng Đường” – Nguyễn Thị Mai Thanh

Họa sĩ Nguyễn Thị Mai Thanh sinh năm 1958 ở Phú Thọ. Chị tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Mỹ thuật năm 1977, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1984 và có nhiều năm gắn bó với công tác giảng dạy. Dáng người mảnh khảnh, ăn mặc trẻ trung, năng động, đi đứng nhẹ nhàng, nói năng dịu dàng… dễ cho người đối diện hình dung một Mai Thanh khó có thể dữ dội với những nét bay thoáng hoạt và những hình ảnh trừu tượng dồn dập đầy cảm xúc trong những bức sơn dầu.

Tháng 6 - Nguyễn thị Mai Thanh
Tháng 6 – Nguyễn thị Mai Thanh

Chị tâm sự, triển lãm “Một quãng đường” diễn ra vào tháng 1/2016 tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như để trải lòng về “một chặng đường” lao động và sáng tạo trong hành trình khám phá với nghệ thuật hội họa. Một quãng hành trình để bay, để thả tâm hồn mình theo những trận gió, những chiếc lá, những cánh bướm, những đàn cá bơi… khát khao tự do trong tự do của bút pháp tạo hình không câu nệ vào những luật lệ.

Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG - Nguyễn Thị Mai Thanh - 2015
Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG – Nguyễn Thị Mai Thanh – 2015

Chị quan niệm, không có luật lệ nào cho nghệ thuật. Tác phẩm hội họa là nơi gửi gắm tâm hồn, không phải nơi phô diễn kỹ thuật; kỹ thuật vẽ là để phục vụ sự biểu đạt cảm xúc. Hội họa không phải là thứ để thay thế nghệ thuật minh họa. Nó cần được người xem cảm nhận bằng tâm hồn, cùng tham gia khám phá cái đẹp của ngôn ngữ tạo hình thông qua khả năng biểu cảm mang tính vật chất của chất liệu. Nó không cần sự cố gắng lý giải bằng một ngôn ngữ khác.

Tác phẩm NHẢY MÚA - Nguyễn Thị mai Thanh
Tác phẩm NHẢY MÚA – Nguyễn Thị mai Thanh

Một quãng đường” cũng có thể ví như là “một quãng bay” của Mai Thanh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy cảm xúc… tác phẩm thể hiện lối vẽ phóng tác từ cảm nhận thực tế nhưng không tả mà thiên về biểu đạt những ấn tượng cảm xúc của cá nhân về hiện thực. Tại triển lãm “Một quãng đường” lần này của chị tranh có khuynh hướng trừu tượng và khai thác nội tâm nhiều hơn.

Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh - Nguyễn thị mai thanh
Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh – Nguyễn thị mai thanh

Gắn bó với công tác giảng dạy tại khoa Sư phạm Mỹ thuật, trường Sư phạm Nhạc hoạ Trung ương (nay là trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW). Nhưng chị chỉ thực sự tập trung vẽ từ sau năm 2008. Họa sĩ Mai Thanh cũng đã tham gia một số triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Mỹ thuật Hà Nội như triển lãm Một nghìn năm Thăng Long Hà Nội, Mỹ thuật Toàn quốc năm 2010, triển lãm tranh cá nhân tại 16 Ngô Quyền Hà Nội năm 2011. Chị tham gia Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2012 và tới nay Triển lãm tranh “Một quãng đường” là kết quả sau 5 năm lao động từ triển lãm lần thứ nhất 2011.

Tác Phẩm Hồng Bay - Nguyễn Thị Mai Thanh
Tác Phẩm Hồng Bay – Nguyễn Thị Mai Thanh

Gần 40 tác phẩm của chị sẽ trưng bày trong triển lãm đầu xuân 2016 tại phòng triển lãm nghệ thuật của bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như một bức tranh đẹp của chị gửi đến đồng nghiệp, bạn yêu mỹ thuật, góp một sắc màu nhỏ nhoi trong bức tranh toàn cảnh lớn của Mỹ thuật Việt Nam.

Bức tranh “Cô lái đò” của vua Đồng Khánh

Gần đây, nhiều tác phẩm nghệ thuật Việt Nam lưu lạc trên khắp thế giới đã xuất hiện trở lại trước công chúng, thông qua các cuộc đấu giá quốc tế.

Một số bức tranh của Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị… – thực sự đã làm cho chúng ta sửng sốt, không chỉ vì những giá trị nghệ thuật đặc biệt cao, mà còn vì những khoản tiền lớn mà người ta đã phải bỏ ra để sở hữu được chúng.

Bức tranh cô lái đò
Bức tranh cô lái đò

Không chỉ có vậy. Thông qua các cuộc bán đấu giá, chúng ta còn có may mắn phát hiện thêm nhiều điều bất ngờ về nghệ thuật Việt Nam. Tại Paris, ngày 24 tháng 11 năm 2010, một bức tranh nhan đề “Déclin du jour” (Xế chiều) của vua Hàm Nghi, đã được tìm thấy và được đem bán đấu giá, với số tiền thu được là 8.800 euros. Đến nay, số tranh của vua Hàm Nghi để lại thống kê được khoảng 100 bức.

Qua một cuộc bán đấu giá khác của Sotheby’s, một bức tranh vẽ “Đại nội Huế” cũng đã được bán. Đây có thể là dịp may đầu tiên để phát hiện thêm một họa sĩ Việt Nam sống ở thời kỳ cận đại: vua Đồng Khánh, với bút danh ký trên tác phẩm là “Ưng Mông”.

Vua Đồng Khánh sinh ngày 12 tháng giêng năm Giáp Tý, tức ngày 19 tháng 2 năm 1864; lên ngôi ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu (19 tháng 9 năm 1885), ở ngôi được ba năm; băng hà ngày 27 tháng chạp năm Mậu Tý (28 tháng 1 năm 1889), khi mới 24 tuổi.

Như vậy, về mặt niên đại, vua Đồng Khánh đã vẽ tranh cách ngày nay ít nhất 127 năm, trước vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi chỉ bắt đầu đi vào hội họa sau khi ông từ Alger sang Paris và được xem một cuộc triển lãm hội họa của Gauguin (mà theo một số nguồn tư liệu thì cuộc triển lãm đó đã diễn ra vào năm 1899, tức là đúng mười năm sau khi vua Đồng Khánh mất).

Thêm nữa, nếu vua Hàm Nghi vẽ tranh ở nước ngoài, thì vua Đồng Khánh vẽ tranh hoàn toàn ở trong nước. Đây cũng là điểm khác nhau quan trọng giữa hai ông về mặt nghệ thuật.

bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh
Bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh

Một bằng chứng thứ hai chắc chắn đã có được về hoạt động hội họa của vua Đồng Khánh – chính là một bức tranh hiện nằm trong sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Thủ đô Hà Nội. Bức tranh được vẽ bằng sơn dầu trên toan, tình trạng tốt, khổ 36x50cm, có chữ ký “Ung Mong” (chữ quốc ngữ, không dấu) ở phía dưới bên phải, và chữ “sampanière” (tiếng Pháp, có nghĩa là “Cô lái đò”) ở phía dưới bên trái.

Bức tranh này đã được bán ở Paris, tại Nhà đấu giá Drouot Richelieu danh tiếng lâu đời của nước Pháp, mở hồi 13h30 ngày thứ tư 18 tháng 11 năm 2015, mang số 572, cùng phiên bán một số tác phẩm nghệ thuật châu Á khác như các tranh khắc gỗ Nhật Bản của Hokusai, Utamaro, Hiroshige…

***

Việc tìm hiểu lý do và quá trình lĩnh hội nghệ thuật hội họa của vua Đồng Khánh chắc chắn cần có thêm nhiều thời gian. Nhưng cái nhã thú về “thi họa” của các bậc văn nhân, nhất là của các ông hoàng bà chúa thì không có gì khó hiểu.

Riêng ở bức “Cô lái đò”, vua Đồng Khánh quả tình đã đi vào một đề tài mang tính đặc trưng giai thoại như thường thấy. Bức tranh làm chúng ta liên tưởng tới một số bức họa hiện nay vẫn còn trong các nội thất kiến trúc cung đình Huế.

Tuy nhiên, cách thể hiện ở đây lại tỏ rõ một học vấn và kỹ năng hội họa khá vững vàng của nhà vua, với tư cách của một họa sĩ ít nhiều có chuyên môn, hơn là của một người yêu nghệ thuật vẽ tranh. Phối cảnh đơn giản, mở ra một góc nhìn rộng về phía thượng nguồn sông Hương, trong không khí của một chiều lành lạnh, với hiệu quả “lam-bạc” phớt xanh của mặt nước.

Cô lái đò không phải là một thiếu nữ bình dân, mà có cốt cách của một quý cô. Và đây cũng là một điểm đáng ghi.

***

Vua Đồng Khánh là người không chống Pháp. Ông được coi là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, mà theo một số đánh giá nào đó, thì sự kiện này đã góp phần làm “nhỡ” bước đi của lịch sử dân tộc.

Sự phức tạp và mẫn cảm của tinh thần và tâm hồn con người, đặc biệt của một vị vua, trong những điều kiện đầy xáo động của lịch sử như vậy, luôn luôn cần được nhìn ở nhiều góc độ. Hy vọng là từ những dấu vết hội họa đầu tiên này của vua Đồng Khánh để lại, chúng ta sẽ ngày càng tìm thêm được những bằng chứng mới để hiểu thêm về một nhà vua, với tầm vóc thực của một con người

www.Vietnamfineart.com.vn

Chiêm ngưỡng bộ ảnh nghệ thuật 18+ đoạt giả cao nhất hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam

Ảnh nghệ thuật 18+ của nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Phiên đã dành được rất nhiều lời khen có cánh trong triển lãm ảnh khỏa thân nghệ thuật. Bộ ảnh “Bước thời gian” với 15 bức ảnh xuất sắc tone màu trắng đen làm chủ đạo đã hiên ngang dành giải E.Vapa Gold (Tước hiệu cao nhất của Hội NSNA Việt Nam).

Anh-nghe-thuat-18-5
Ảnh khỏa thân nghệ thuật 18+ gây nhiều ý kiến trái chiều

Bộ ảnh khỏa thân này đã thay đổi nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam

Theo danh sách phong tặng tước hiệu E.Vapa năm 2014 của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam vừa công bố, có 5 NSNA được phong tặng tước hiệu E.Vapa Gold năm 2014 gồm: Hồ Sỹ Minh, Nguyễn Tất Bê, Ngô Quang Phúc, Hoàng Thạch Vân và Nguyễn Thái Phiên.

Đáng chú ý là tham gia đợt xét duyệt tước hiệu lần này, NSNA Thái Phiên trình làng bộ ảnh khỏa thân nghệ thuật “Bước thời gian” đã gây sự chú ý lẫn… khó chịu cho BGK. Kết quả, bộ ảnh này cùng với những thành tích trong hoạt động nghệ thuật đã mang về cho anh tước hiệu cao nhất của Hội NSNA Việt Nam: E.Vapa Gold. Đây cũng đánh dấu một sự kiện không nhỏ trong làng nhiếp ảnh Việt Nam: Hội đồng nghệ thuật đã chấp nhận ảnh khỏa thân.
Bộ ảnh “Bước thời gian” của NSNA Thái Phiên gồm 15 ảnh (theo thứ tự từ 1-15) là câu chuyện kể về những giai đoạn đáng nhớ của đời người phụ nữ. NSNA Thái Phiên đã dùng ánh sáng và ngôn ngữ nhiếp ảnh (sắc độ nặng – Low key lighting – sử dụng tông màu đen là chủ đạo) để diễn đạt nội tâm theo thời gian dần trôi… Bộ ảnh như một câu chuyện không lời nhưng rất có hậu của NSNA Thái Phiên, có cả niềm vui, nỗi buồn diễn biến theo tâm lý của một khoảng đời người phụ nữ…
Một thành viên của Hội đồng nghệ thuật Hội NSNA Việt Nam cho biết: Để đủ tiêu chuẩn để được xét giải, ngoài việc phải có 20 điểm TƯ và 4 HCĐ quốc gia trở lên hoặc HCV quốc tế (tổng 20 lần đoạt giải), tác giả còn phải trình 1 bộ ảnh chứng minh quá trình nghề nghiệp đủ sức thuyết phục Hội đồng giám khảo.

Được biết, đến năm 2013, số tác giả được phong tước hiệu E.Vapa Gold chưa đến 10 người và đây là lần đầu tiên Hội đồng nghệ thuật xét phong tước hiệu này cho một tác giả trình bộ ảnh khỏa thân nghệ thuật.

Xem qua bộ ảnh nghệ thuật 18+ Bước thời gian của Thái Phiên

Anh-nghe-thuat-18-1
Anh-nghe-thuat-18-1
Anh-nghe-thuat-18-2
Anh-nghe-thuat-18-2
Anh-nghe-thuat-18-3
Anh-nghe-thuat-18-3
Anh-nghe-thuat-18-4
Anh-nghe-thuat-18-4
Anh-nghe-thuat-18-5
Anh-nghe-thuat-18-5
Anh-nghe-thuat-18-6
Anh-nghe-thuat-18-6
Anh-nghe-thuat-18-7
Anh-nghe-thuat-18-7
Anh-nghe-thuat-18-8
Anh-nghe-thuat-18-8

www.vietnamfineart.com.vn

HỌA SĨ NGUYỄN GIA TRÍ – BỘ SƯU TẬP CỦA BẢO TÀNG MỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX nằm trong quá trình định hình và chuyển biến quan trọng của lịch sử Việt Nam cận – hiện đại. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây, sơn mài thoát mình từ sơn ta truyền thống, thực sự đánh dấu một kỷ nguyên mới về chất liệu, về phương tiện diễn tả một loại hình đặc trưng của dân tộc.

Những cống hiến cho sự sáng tạo thời kỳ này gắn liền với tên tuổi của danh họa Nguyễn Gia Trí, một họa sĩ hàng đầu, nổi tiếng trong loại hình nghệ thuật sơn mài tạo hình Việt Nam.

Đôi nét về họa sĩ Nguyễn Gia Trí

Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 tại Hà Tây – một trong những vùng đất nổi tiếng của nghề thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là nghề sơn ta. Năm 1928, ông theo học tại trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa IV, sau đó bỏ ngang và quay trở lại học vào khóa VII (1931 – 1936). Bằng tài năng và sự sáng tạo, ông là một trong những người có công lớn trong việc cải tiến, hoàn thiện và tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho chất liệu sơn mài. Từ 1954, ông vào Nam sinh sống và hoạt động sáng tác tại Sài Gòn, ông mất 1993.

Ngoài một số tác phẩm thuộc về các nhà sưu tập tư nhân, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan nhà nước sở hữu bộ sưu tập lớn nhất hiện nay, đặc biệt về tư liệu phác thảo của danh họa Nguyễn Gia Trí.

Bộ sưu tập gồm 133 tư liệu phác thảo trên giấy, giấy dán trên bìa cứng và giấy can với các chất liệu: bút dạ, bút bi, bột màu, sơn then, sơn cánh gián, chì than, màu sáp, màu nước… Các tư liệu phác thảo bao gồm các khổ lớn, nhỏ khác nhau: phác thảo nhỏ nhất có kích thước 15 x 11 cm và phác thảo lớn nhất có kích thước 172 x 230 cm. Tựu chung có thể hệ thống các tư liệu phác thảo của họa sĩ Nguyễn Gia Trí thành hai khuynh hướng sáng tác là tả thực và trừu tượng. Ở khuynh hướng tả thực có thể phân thành sáu mảng đề tài chính: đề tài phong cảnh – phong cảnh sinh hoạt, đề tài về tác phẩm “Vườn xuân Trung Nam Bắc”, đề tài về lịch sử, đề tài về sen, đề tài về động vật (chiếm số lượng ít nhất) và đề tài về phụ nữ (chiếm số lượng nhiều nhất).

Ở mảng đề tài phong cảnh – phong cảnh sinh hoạt, có thể ghi nhận phong cảnh đình chùa chiếm số lượng phác thảo nhiều nhất, kế đến là những phác thảo về hoa, về sinh hoạt nơi bến thuyền và phong cảnh lễ hội. Một số ít phác thảo phác họa toàn cảnh, còn lại phần lớn được thể hiện ở từng cụm hình, thông thường là các cây đại thụ gắn liền với các kiến trúc cổ, tuy vậy, mỗi phong cảnh ở từng phác thảo đều rất phong phú, mỗi hình, mỗi vẻ.

Những phác thảo về tác phẩm “Vườn xuân Trung Nam Bắc” được nhận diện hầu hết là những phác thảo về những hình họa đơn lẻ với những phác họa tổng thể về hình dáng, bên cạnh số ít phác thảo được thể hiện chi tiết gần như nguyên bản chính thức.

Với mảng đề tài lịch sử, dễ dàng nhận diện đây là những phác thảo cho hai tác phẩm “Hai Bà Trưng” và “Trận Bạch Đằng”. Các phác thảo được thực hiện trên khổ giấy lớn, hình họa được bố cục hoàn chỉnh, các nét vẽ chi tiết, thuần thục, kết hợp với việc sử dụng màu sáp, chì than, son, sơn then, các phác thảo có thể được xem như những tác phẩm thực thụ.

Phác thảo về sen được ông thực hiện chủ yếu ở lá sen. Những chiếc lá sen được ghi nhận từ cái nhìn tổng thể đến chi tiết, tỉ mỉ từng đường gân, sống lá, từng giọt sương li ti đến vẻ tươi tắn, sống động hoặc mủn, giòn của một chiếc lá héo chuyển sang khô.Tất cả được thể hiện thật phong phú và linh động dưới nhiều góc độ. Bên cạnh những phác thảo được vẽ bằng bút màu và chì than, vẻ đẹp của những chiếc lá sen dường như đẹp hơn, lung linh hơn ở những phác thảo được vẽ bằng chất liệu sơn cánh gián.

Những phác thảo về lân, rồng, đặc biệt ngựa, tôm là những đề tài hiếm hoi được ghi nhận, dường như ngựa và tôm là những đề tài mà Nguyễn Gia Trí có ý hướng muốn thể nghiệm.

Phụ nữ là một đề tài xuyên suốt được biết đến trong phần lớn những tác phẩm nổi tiếng của ông. Ở mảng đề tài này, những phác thảo được thực hiện phân đều giữa tổng thể và chi tiết. Có những phác thảo rất đơn giản, chỉ một vài nét bút đã phác họa nên hình một cô gái với các động tác biểu đạt (đứng, ngồi, hoặc nằm…) trong chiếc áo dài truyền thống. Có những phác thảo được thực hiện chi tiết hơn kết hợp với việc bố cục phong cảnh tạo nền cho các nhân vật thường là với môtip ba hoặc bốn cô gái. Trong những phác thảo này, mặc dù chỉ là những nét phác họa nhưng thần thái, phong cách không những rất sống động mà còn rất tự nhiên, chân thật.

Khuynh hướng thứ hai trong những phác thảo của danh họa Nguyễn Gia Trí thuộc thể loại trừu tượng. Với những vệt màu sáng tối, những hình vẽ lúc đơn giản như hoa văn của những vân gỗ, lúc lại phức tạp, đa chiều với những họa tiết gồ ghề, dọc ngang… hoặc như những tia pháo sáng, thật khó nắm bắt được ý tưởng và hình dáng. Dù đây chỉ là một khuynh hướng được Nguyễn Gia Trí sáng tác với tính chất thể nghiệm, tuy vậy ông đã rất thành công khi vận dụng trên chính chất liệu sơn mài.

Với trình độ bậc thầy về tả thực, bằng tài năng và kỹ thuật điêu luyện trong việc nắm bắt rất nhanh thực tại và thể hiện cái thần của sự vật chỉ trong vài nét bút, các tư liệu phác thảo đã thể hiện một thế giới lao động cần mẫn, dạt dào cảm xúc nhưng cũng đầy bí ẩn của hình và sắc qua bàn tay và khối óc của người họa sĩ. Về nội dung đề tài, ông định hướng “Cứ vẽ, gặp cái gì vẽ cái đấy. Vẽ cho nhanh, cho kịp cảm xúc của mình. Phải luyện mắt để nhìn, để thấy cái đẹp…”.

Vốn có tiếng tài hoa về hình họa, thế nhưng Nguyễn Gia Trí không lệ thuộc vào sao chép mà từ quan sát tinh vi thực tế cuộc sống, ông chắt lọc những chi tiết đắt giá nhất cho những bố cục hình họa của mình. Bên cạnh việc xác định trọng tâm là hướng vẽ đúng, về kỹ thuật, ông đã đúc kết: “Khi vẽ là chúng ta sử dụng cái hữu hình để nói cái vô hình…chủ yếu là do con mắt, nhìn hình chắc thì nét vẽ chắc, màu chắc”.

Từ những phác họa trên giấy, chúng ta cảm nhận được một chiều kích khác của quá trình sáng tạo nghệ thuật của một danh họa, với ông, các phác thảo có một tầm quan trọng đặc biệt bởi đó là phương tiện để ông thể hiện cái hình: “Hội họa là nghệ thuật tạo hình. Cái gốc của nó là tạo hình. Hình rất đa dạng, một chấm cũng là hình. Một nét, một phẩy cũng là hình.”

Đọc thêm: Sách “Trường mỹ thuật đông dương”

Như vậy, có thể nhận định, Nguyễn Gia Trí đã ý thức về tầm quan trọng tương đương giữa chất liệu và hình trên con đường sáng tạo vươn đến đỉnh cao của nghệ thuật, đó là yếu tố làm cho các tác phẩm sơn mài của ông thoát khỏi lối mỹ nghệ truyền thống và trở thành những tác phẩm hội họa. Trong các tư liệu phác thảo, nhiều bức có thể đứng như một tác phẩm, tuy nhiên toàn bộ những phác thảo này không được Nguyễn Gia Trí ghi nhận lại thời điểm sáng tác cũng như tên đề tài, một chi tiết gần như bắt buộc để hiểu về tiến trình nghệ thuật của ông, bởi có lẽ do ông quan niệm: “Tranh không có đề tài. Đề tài chính là chất liệu sơn mài”.
Quá nửa thế kỷ tìm tòi, sáng tạo và cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật, Nguyễn Gia Trí là một tấm gương sáng về tài năng và đạo đức nghề nghiệp, ông thực sự là một chân dung lớn của nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tự hào được vinh danh ông và xin trân trọng giới thiệu 114 tác phẩm và tư liệu phác thảo trong bộ sưu tập mỹ thuật quý giá về Nguyễn Gia Trí – nhà danh họa tiên phong trong việc xây dựng nền móng cho nền nghệ thuật nước nhà.

Nhà xuất bản Mỹ thuật

Tranh Bùi Xuân Phái trong bộ sưu tập Nguyễn Minh

Bộ sưu tập nghệ thuật của ông Nguyễn Minh ở phố Phan Đình Phùng, Hà Nội – có thể nói – là một trong những bộ sưu tập lớn nhất ở nước ta hiện nay, đặc biệt ở mảng tranh của các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Đôi nét về Nguyễn Minh

Ông Nguyễn Minh cũng là một trong những nhà sưu tập Việt Nam đầu tiên đã đi đầu trong cuộc tìm kiếm các tác phẩm nghệ thuật của Việt Nam lưu lạc ở nước ngoài, nhất là ở châu Âu và Mỹ. Số lượng các tác phẩm từ nước ngoài quay trở về Việt Nam cũng đã được tập trung nhiều nhất trong bộ sưu tập của ông Nguyễn Minh.

Phố Cổ Hà Nội - Bùi Xuân Phái
Phố Cổ Hà Nội – Bùi Xuân Phái

Chúng ta có thể gặp trong bộ sưu tập này hầu hết các tác giả tên tuổi xưa nay: từ Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Phạm Hậu, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Lê Quốc Lộc đến Nguyễn Văn Tỵ, Văn Bình, Trần Đình Thọ, Nguyễn Trọng Hợp, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm, Quang Phòng, Trần Duy, Võ Lăng, Trần Phúc Duyên, Mai Văn Hiến, Mai Văn Nam…

Phố Đêm - Bùi Xuân Phái
Phố Đêm – Bùi Xuân Phái

Về các tác giả nước ngoài có Joseph Inguimberty (họa sĩ Pháp, nguyên giảng viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương), Évariste Jonchère (nhà điêu khắc, họa sĩ Pháp, nguyên hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương)… và một số nghệ sĩ đương đại ở các nước Đông Nam Á. Tranh Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, ông Nguyễn Minh có số lượng tranh lớn nhất.

Là một nhà sưu tập có hệ thống và thận trọng, riêng tranh của Bùi Xuân Phái (mà tình trạng thật giả từ lâu đã trở nên nghiêm trọng hơn bất cứ tác giả nào khác), ông Nguyễn Minh chỉ sưu tập những tác phẩm đã từng nằm trong những bộ sưu tập thật sự đáng tin cậy, đặc biệt trong bộ sưu tập trước đây của ông Petro, phó đại sứ Italia ở Hà Nội những năm 1980.

Bức tranh Phố Hàng Bạc - Bùi Xuân Phái
Bức tranh Phố Hàng Bạc – Bùi Xuân Phái

Một số tranh của Bùi Xuân Phái giới thiệu ở đây cũng đã được sưu tập từ những nguồn đó.

Những bức tranh này đã được Bùi Xuân Phái sáng tác trong những thời kỳ rất khác nhau, kéo dài từ những năm 1960 cho đến tận thời kỳ cuối cùng của ông vào những năm 1980.

Chân dung Văn Dương Thành - Bùi Xuân Phái
Chân dung Văn Dương Thành – Bùi Xuân Phái

Qua đây, chúng ta có thể thấy lại tiến trình sáng tạo hội họa của Bùi Xuân Phái, với các đề tài quen thuộc của ông: phố cổ, cảnh nông thôn, biển, hoặc chân dung thiếu nữ.

Sự tìm tòi của Bùi Xuân Phái bao giờ cũng xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực khách quan, và bằng cái chủ quan cá nhân của mình, ông đã hệ thống hóa mọi sự vật vào một “khung sơ đồ”, bỏ qua mọi ngẫu nhiên, chỉ giữ lại cái cốt lõi, để biểu hiện tư tưởng của một họa sĩ “đã đi vòng qua châu Âu để trở về với tâm tính Á Đông – Việt Nam”, phong phú mà không chiết trung.

Mặc dù chỉ vẽ trong một diện đề tài khá hẹp, nhưng cái tài của Bùi Xuân Phái là ở chỗ ông luôn luôn phát hiện ra những góc độ mới, những phương diện mới của cùng một loại sự vật, một đề tài. Hay nói cách khác, Bùi Xuân Phái đã tìm được nhiều sự thật qua nhiều trạng thái, nhiều tình huống mà nhìn bề ngoài chúng có vẻ tương tự nhau, điều mà một người vẽ bình thường không thể làm được như ông.

Đúng như Bùi Xuân Phái đã từng nói: “Cái đẹp không ở đâu xa lạ. Cái đẹp ở ngay quanh ta. Chỉ có người thấy và người không thấy”.

Hội mỹ thuật Việt Nam

Cảm nghĩ về EVA của một họa sĩ

Một ngày đẹp trời, trước thềm xuân Ất Mùi, tôi nhận được món quà xuân của cô cháu gái từ Hà Nội gửi tặng. Mở ra, là cuốn sách ký họa của họa sĩ Trần Tuy. Sách có vừa phải (khổ 22x21cm), không quá dày (hơn 60 trang), bìa cứng trình bày trang nhã rất duyên. Đặc biệt, với tựa đề ký họa Eva, trong đó chữ Eva lấp lánh ánh kim sang trọng làm tôi tò mò, rất muốn tìm hiểu.

Xem thêm: Những nét họa chưa già

Tại sao lại là Eva ? Eva là một trong cặp đôi Adam & Eva trong thần thoại thủy tổ của loài người. Biệt danh Eva hàm chỉ người đàn bà khỏa thân phô bày những nét đẹp tự nhiên trời phú cho riêng họ.

Cảm nhận về EVA của một họa sĩ
Cảm nhận về EVA của một họa sĩ

Lần giở từng trang, thì ra đây là một tập ký họa những cô gái mình trần mà người ta thường gọi là vẽ nude, của tác giả. Đây có thể ví như một chuỗi ngọc mà mỗi người là một hạt ngọc. Nhưng tôi thích gọi họ là: Eva của Trần Tuy.

Từ trước tới giờ, tôi biết Trần Tuy là “tay điêu khắc” có tiếng, anh cũng là “tay ký họa ngon lành”. Anh có cả một bộ sưu tập những người cùng thời đại ở thế kỷ 20 bằng ký họa chân dung được người xem nể phục.

Tuy nhiên, tôi tự hỏi: một người luôn nhỏ nhẹ, chừng mực trong giao tiếp, ứng xử như anh, cái cốt cách rất đặc thù của người Hà Nội gốc, không biết anh vẽ nude vào lúc nào, ở đâu? Có vẻ anh không giống những họa sĩ vẽ nude mà tôi biết, họ thường bỗ bã rất gồ ghề, khó đoán định. Tôi chợt thấy mình cần phải đọc kỹ lại bài viết của người giới thiệu (Quang Việt) cùng lời tựa của tác giả xem sao.

Thật bất ngờ và thú vị, cuốn sách được hình thành là kết quả một phần nhỏ của cả một quá trình “du ký” kéo dài thời trai trẻ của tác giả.

Chất lãng du ở anh rất rõ nét, toát lên sự ngẫu hững trong mọi dáng vẻ, thần sắc trên từng bức vẽ.

Eva của Trần Tuy không kiêu sa, lộng lẫy như những tiểu thư quí tộc mình trần tạo dáng trên nhung lụa, gấm vóc kiểu châu Âu những thế kỷ trước mà là vẻ đẹp khiến người xem dường như muốn được chiêm ngưỡng, cảm phục hơn là đồng cảm.

Eva của Trần Tuy cũng không hẳn là người mẫu hay người tình của tác giả, được sắp xếp bài bản trong xưởng vẽ như thường thấy. Người thưởng lãm nói chung cảm thụ được cái đẹp, cái hữu tình nhất là trong ánh mắt quý ông, có thể cũng có người mơ tưởng hơn là sẻ chia.

Eva của Trần Tuy càng không phải là những người mẫu chân dài, ngực nở, eo thon (có khi nhờ dao kéo) trong tư thế ưỡn ẹo, dung tục đến nhàm chán, nhan nhản giữa đời thường.

Với cái nhìn điêu khắc trong không gian ba chiều, kết hợp kỹ năng kiệm nét trong mọi tình huống trên giấy rất riêng của mình, tác giả đã thể hiện tối đa sự tinh tế của vẻ đẹp trên có thể phụ nữ. Eva của anh là hiện thực, gắn liền với đời thường, luôn trong tư thế và trạng thái thanh thản, phảng phất sự thanh cao, nhẹ nhõm, tự nhiên và thánh thiện đến ngỡ ngàng. Họ vừa là thiếu nữ, vừa là đàn bà, rất gần gũi, thân thương.

Cũng phải nói thêm một điều, bên cạnh từng bức vẽ, Trần Tuy còn cố công tìm kiếm những danh ngôn, những câu thờ bất hủ mà gần gũi với hình vẽ của các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Thái Can, Phạm Huy Thông, Thế Lữ, Wiliam Bloker, La Sơn, Cù Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư… in kèm như để tăng thêm chất thơ cho hình vẽ bởi Thư-Họa song hành trên trang giấy, đôi khi tạo một hiểu quả thú vị. Có lẽ, đây là cuốn sách (dù còn khiêm tốn) đầu tiên về ký họa khỏa thân ở ta.

Là phụ nữ ngắm nhìn Eva của anh, tôi thấy mình lấp ló ở đâu đó trong tranh, một cảm giác lâng lâng, tự sướng, rất ấn tượng.

Ảnh minh họa trong bài được lấy từ sách “Ký họa Eva” của nhà điêu khắc Trần Tuy

Hiền Lương