Danh họa, cố họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910-1994)

Năm 1931, sau 3 tháng học dự bị do hoạ sĩ Nam Sơn hướng dẫn, Trần Văn Cẩn thi đỗ vào khoá VI (1931-1936) Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương  cùng với Nguyễn Gia Trí, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Văn Tại, Nguyễn Thuỵ Nhân, Vũ Đức Nhuận… Năm 1933 ông cùng các hoạ sĩ  thể nghiệm thành công tranh sơn mài với sơn son, vỏ trứng.

Vừa học tập, vừa sáng tác: năm 1934 tác phẩm đầu tay mang tên Mẹ Tôi đã được tham dự phòng triển lãm ở Paris. Cùng với Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Quang Trân, Trần Văn Cẩn là một trong những sinh viên đầu tiên nghiên cứu sơn ta, ông đã cùng bác Phó Thành tìm cách pha chế để có thể vẽ được nhiều lớp sơn chồng lên nhau và mài.

Họa sĩ Trần Văn Cẩn
Họa sĩ Trần Văn Cẩn

Năm 1935, tại triển lãm lần thứ nhất Hội Khuyến Khích Kỹ thuật và công nghệ  ( viết tắt là SADEAL) Trần Văn Cẩn đã có bốn tác phẩm Em gái tôi  – sơn dầu, Cha con- lụa, Đi làm đồng và Cảnh bờ sông –  khắc gỗ màu, trong đó hai bức Cha con và Đi làm đồng được sáng tác trên cơ sở ký hoạ ở Yên Viên,  phía Bắc Hà Nội. Tại cuộc triển lãm này ông được tặng giải ngoại hạng và được cử vào Ban giám khảo. Năm 1936, ông lại gửi tới triển lãm SADEAL lần hai với ba bức tranh lụa: Cô đơn, Chân dung cô gái nhỏ và Chăn ngựa. Năm 1937 ông dự hội chợ triển lãm quốc tế Paris với bốn tác phẩm lụa: Chân dung cô gái trên nền hoa đào, Chợ hoa, Thê và Mang cỏ cho ngựa ăn. Có thể thấy suốt giai đoạn học, Trần Văn Cẩn đi khá sâu vào chất liệu lụa vậy mà bài thi tốt nghiệp của ông lại là bức bình phong trang trí khổ 180 x 60 cm ghép từ 6 tấm vóc với đề tài sinh hoạt của giới trí thức xưa có tên Lều chõng. Bài tốt nghiệp này của ông được đánh giá cao.

Khi ra trường, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn từ chối sự bổ nhiệm của chính quyền thuộc địa. Hè năm đó ông đi xe đạp vào Huế cùng hai bạn học để vẽ phong cảnh, nhưng bị chính quyền nghi ngờ và gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng ông quyết tâm tập trung vào chuyên môn, liên tục sáng tác nhiều tác phẩm bằng các chất liệu sơn mài, lụa, sơn dầu, khắc gỗ. Có thể coi thời kỳ này là thời kỳ hoạ sĩ Trần Văn Cẩn thử sức mình trên nhiều chất liệu khác nhau và ở chất liệu nào ông cũng đạt được thành công. Đó là các tác phẩm: Đi lễ chùa – lụa; Trong vườn – năm 1938, sơn mài (120 x 80 cm)  khi dự triển lãm SADEAL lần thứ III tại Hải Phòng, ông nhận được Giải Ngoại Hạng, tác phẩm này gửi đi dự triển lãm ở Batavia. Tác phẩm Bên sông Hồng  – lụa, Phong cảnh Huế – sơn dầu năm 1939 dự triển lãm SADEAL lần thứ IV.  Tác phẩm Gánh lúa – Lụa,  Ngư dân  – sơn dầu  gửi sang Tokyo năm 1940. Năm 1943 ông gia nhập nhóm “Trung tâm nghệ thuật Việt Nam” gọi tắt là FARTA, đồng thời gửi hai tác phẩm: Em Thuý – sơn dầu  và  Gội đầu – khắc gỗ. Mà sau đó ông được tặng giải nhất. Năm sau, ở triển lãm FARTA lần 2, ông gửi hai tác phẩm: Bên ao sen – sơn dầu, Hai thiếu nữ trước bình phong – lụa, 1944. Cũng năm này, tác phẩm  Nắng trong vườn – sơn dầu của Trần Văn Cẩn gửi tham dự triển lãm “Duy nhất”. Tác phẩm sơn dầu Em Thuý và tác phẩm Gội đầu tranh khắc gỗ của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn hiện được lưu giữ tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thời tiền khởi nghĩa, cảm tình với các bạn ở Văn hoá cứu quốc, ông vẽ tranh cổ động Cứu nông dân, Trừ giặc đói, Phá xiềng, Bản đồ Việt Nam không thể chia cắt. Các tác phẩm của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác đã tham dự nhiều triển lãm trong nước và quốc tế. Điều này, thể hiện sức sáng tạo của ông hết sức dồi dào. Chính ông cùng các hoạ sĩ tốt nghiệp trường cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thời đó như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị… đã tạo nên những tác phẩm hội hoạ hiện đại giai đoạn đầu ở Việt nam.

Tác phẩm Em Thúy - Trần Văn Cẩn
Tác phẩm Em Thúy – Trần Văn Cẩn

Năm 1945 Cách mạng Tháng Tám thành công. Trong những ngày sôi sục khí thế cách mạng và chống lại âm mưu xâm lược của giặc Pháp, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng với nhiều danh hoạ khác đã hăng hái vẽ tranh cổ động cỡ lớn trưng bầy ở vườn hoa Chí Linh, Bờ Hồ, ngã tư Tràng Tiền, trước cửa Nhà Hát Lớn. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã vẽ áp phích Nước Việt Nam của Người Việt Nam (4x6m), trong tranh ba nhân  vật thanh niên nam, nữ, thiếu niên với vũ khí trong tay sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. áp phích trên được dựng ở nhà Địa ốc Ngân Hàng. Thời gian này, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng anh em trong Hội Văn Hoá Cứu Quốc đã tổ chức triển lãm văn hoá tại Nhà Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, Hà Nội. ở đây, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã vẽ mẫu cửa – một mẫu cửa khá độc đáo và chỉ đạo trưng bày triển lãm Văn hoá. Lần ấy, anh em nghệ sĩ đã vinh dự được Bác Hồ đã đến thăm và nói chuyện. Tại triển lãm này, Trần Văn Cẩn đã tham dự bức tranh lụa Cấy lúa (Xuống đồng) được sáng tác sau mấy tháng sống giữa khung cảnh đồng ruộng ở một tỉnh trung du; tác phẩm này được tặng giải thưởng Chính Phủ (trị giá hồi đó là1000đ).

Cuối năm 1946, Trường Mỹ Thuật Việt Nam được thành lập, thay thế trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại phố Lò Đúc, Hà Nội do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân  phụ trách. Hoạ sĩ Trần văn Cẩn đã được ông Vân mời tổ chức trường và tham gia giảng dạy. Đây là sự kiện quan trọng để Trần Văn Cẩn bước vào sự nghiệp đào tạo của mình. Trường Mỹ thuật mở chưa được bao lâu thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông cùng nhiều văn nghệ sĩ Thủ Đô vào vùng kháng chiến. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đi Bắc Ninh làm việc cho Phòng Thông Tin tuyên truyền huyện Từ Sơn, tiếp đó phụ trách hoá trang và dựng sân khấu trong Đoàn kịch thiếu nhi lưu động Diên Hồng. Thời gian này Trần Văn Cẩn vẽ nhiều áp phích Đoàn kết; Kháng chiến, hướng dẫn phóng tranh vẽ lên tường để động viên nhân dân tham gia kháng chiến. Năm 1948 ông được mời lên làm việc ở Sở Thông Tin tuyên truyền khu 12 ở gần Nhã Nam – Bắc Giang. Trần Văn Cẩn làm công tác tuyên truyền khu – tham gia chiến dịch Trung Du, hướng dẫn chiến sĩ vẽ dựa trên cơ sở nghệ thuật tranh tết dân gian Đông Hồ, làm tranh khắc gỗ in giấy điệp cổ động cho chiến đấu, sản xuất – học bình dân vv…

Đại hội Văn nghệ Toàn quốc 1948 tại Việt Bắc, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn là một trong 11 đại biểu mỹ thuật tham dự Đại hội. Tại đại hội này ông đã được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn Nghệ Việt Nam cùng với các hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Huỳnh Văn Gấm đại diện cho giới mỹ thuật. Để chào mừng đại hội này, Phòng triển lãm hội họa kháng chiến 1948 đã được tổ chức  bầy 53 tác phẩm, Trần Văn Cẩn đã gửi tới triển lãm nhiều trực hoạ và tranh khắc gỗ in điệp. Năm 1949 ông làm trang trí trọng khu giao tế (Bộ tổng tư lệnh), vẽ tranh hoành tráng Dân quân (kiểu tranh tường).

Năm 1950 Trường Mỹ Thuật Kháng Chiến được thành lập do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, Trần Văn Cẩn được mời cùng giảng dạy với các hoạ sĩ Nguyễn Khang, Nguyễn Tư Nghiêm… Cuối năm 1951, ông được mời về Chiêm Hoá làm trưởng ban tổ chức và tham gia Hội đồng nghệ thuật của Triển lãm hội hoạ 1951 tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang). Trong cuộc triển lãm này ông bày các tác phẩm ở Hang- lụa, Gánh thóc thuế và Nhớ ơn người chiến sĩ vô danh – tranh cổ động và đã được giải thưởng.

Năm 1953, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng một số văn nghệ sĩ khác tham gia  vận động sản xuất, công tác giảm tô và cải cách ruộng đất. Thời gian này ông có nhiều ký hoạ về nông dân và nông thôn, bức tranh tranh lụa  Nông dân vạch tội ác địa chủ được ông sáng tác vào thời gian này.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ông cùng  đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô. Hai tháng sau một triển lãm Mỹ thuật lớn chào mừng giải phóng Thủ đô đã được tổ chức tại Nhà Hát lớn và Nhà thông tin Tràng Tiền Hà Nội. Ban tổ chức gồm Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Huỳnh Văn Gấm, Mai Văn Hiến, Nguyễn Sĩ Ngọc, Lương Xuân Nhị, Huỳnh Văn Thuận, Nguyễn Văn Tỵ. Triển lãm khai mạc ngày 14/11/1954 với 496 tác phẩm của 152 hoạ sĩ gửi đến dự triển lãm. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn dự triển lãm với tác phẩm tranh lụa Con  đọc bầm nghe và 06 ký hoạ Làm cầu; Phố Bắc Giang; Bến Sông Thương; Bộ đội trong động Tam Thanh; Động Bình Gia.

Năm 1955 ông tiếp quản trụ sở trường Mỹ thuật ở 42 Yết Kiêu Hà Nội hoạ sĩ Trần Văn Cẩn được giao làm Hiệu trưởng. Cùng thời gian này ông làm Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1955. Tại triển lãm này ông gửi hai tác phẩm: Lò đúc lưỡi cầy trong kháng chiến- lụa  và Công nhân hầm lò- sơn dầu.

Sau gần hai năm chuẩn bị –  Đại hội thành lập Hội đã được tổ chức trọng thể tại Câu lạc bộ Hội Liên hiệp Văn nghệ Việt Nam số nhà 1 phố Bà Triệu, Hà Nội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 21 người trong đó có hoạ sĩ Trần Văn Cẩn. Năm 1958 hoạ sĩ Trần Văn Cẩn được Ban chấp hành bầu là Tổng thư ký thay hoạ sĩ Nguyễn Văn Tỵ.

Sau Đại hội của Hội, triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1958 được tổ chức tại 42 Yết Kiêu Hà Nội. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn tham dự với tác phẩm: Nối lại dây gầu- sơn dầu;  Tát nước đồng chiêm – sơn mài; tác phẩm được vẽ sau khi đi thâm nhập thực tế ở vùng Xuân Thượng, Nam Định. Tác phẩm Tát nước đồng chiêm  của ông đã được tặng giải Nhất.

Tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1960 tại 42 Yết  Kiêu, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã tham dự tác phẩm sơn dầu Nữ dân quân miền biển, tác phẩm này đã giành được giải Nhất. Hai năm sau, năm 1962, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã gửi tới triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1962 ba tác phẩm: Mùa đông sắp đến- sơn mài; Chân dung bác thợ lò- sơn dầu và Thiếu nữ áo trắng-  sơn dầu.

Năm 1964 đế quốc Mỹ đưa chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc, cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1964, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đó đã chuyển công tác về Hội Mỹ thuật Việt Nam

Trong thời gian công tác ở Hội bên cạnh công việc lãnh đạo, ông cố gắng sắp xếp để có nhiều thời gian đi vẽ thực tế đến các Sở công nông nghiệp và tuyến lửa, đi vẽ về vùng mỏ Quảng Ninh, vào khu IV (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá) năm 1964; Quảng Bình, Vĩnh Linh năm 1969, 1970. Đi Trường Sơn vào Tây Nguyên năm 1975 và vào Buôn mê thuột ngay sau ngày giải phóng. Những chuyến đi này đã giúp ông gắn bó với thực tế sản xuất và chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước bằng những tác phẩm: Gác đêm, Thuyền hải thôn, Đèo Nai, Sinh hoạt đội ngư thuỷ, Căn  phòng dưới hầm Di Loan, Lão dân quân, Cửa vào địa đạo, Nuôi trẻ trong lòng đất, Nghe đài, Cảnh giới, Kéo lưới…, những cảm xúc và ghi chép thực tế đã giúp ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như Thằng cu đất Mỏ- sơn mài (1968; Mưa mai trên sông Kiến- sơn mài (1972).

Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn trong cương vị Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam đã cùng với Ban thường vụ Hội xây dựng Hội lớn mạnh trong cả nước. Hai triển lãm mỹ thuật toàn quốc lớn năm 1976 và năm 1980 được tổ chức tại Hà Nội. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn vẫn tiếp tục sáng tác và có những tác phẩm tham dự: Hồ Chủ Tịch trên lễ đài mừng chiến thắng  (1975);  Tiến sâu vào lòng đất và Trong lòng đất- sơn mài (1976); Làm thuỷ lợi, Một trận đánh Mỹ, nguỵ ở Cheo Reo (1979); Đưa nước lên Cao nguyên và Chân dung Bé Nga- sơn dầu (1980). Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1990 với tác phẩm: Người Hà Nội – sơn dầu (53 x 70)

Ngoài sáng tác hội hoạ ông còn làm minh hoạ, trình bày sách, sáng tác mẫu mỹ nghệ…

Khó có thể kể hết được những thành tựu sáng tạo của ông, vậy mà đến tuổi 70, vào ngày sinh nhật 13 tháng 8 năm 1980, ông mới tổ chức khai mạc triển lãm cá nhân đầu tiên tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam với 138 tác phẩm chọn lọc từ nhiều thể loại: hội hoạ, đồ hoạ, minh hoạ sách báo, phác thảo bố cục, thể nghiệm trang trí gốm… và những lời giới thiệu trang trọng: “để báo cáo với công chúng về đặc điểm và thành tựu sáng tạo của hoạ sĩ gần nửa thế kỷ  trong đó có 35 năm dưới ánh sáng cách mạng… Với năng lực sáng tạo khá dồi dào về các thể loại và chất liệu kỹ thuật: sơn mài, sơn dầu, khắc gỗ, lụa… và sở trường sử dụng chất liệu sơn mài dân tộc, hoạ sĩ đã tạo một định hình cho bút pháp và phong cách sáng tạo riêng của mình, mà ai cũng có thể dễ dàng cảm nhận được. Đó là sắc thái chân thực, hồn nhiên tươi mát, và giàu chất trữ tình như tâm hồn lạc quan, yêu đời, phong độ tao nhã và thị cảm trong sáng của hoạ sĩ… Hoạ sĩ cũng đã dung hợp nhuần nhuyễn yếu tố tạo hình của truyền thống nghệ thuật dân tộc, nhất là tính chất truyền cảm  ở nghệ thuật dân gian của ông cha ta, và hấp thụ có hiệu quả tinh hoa nghệ thuật tạo hình hiện đại của nhân loại mà không rơi vào tình trạng lai căng hoặc phục cổ…”.

Danh hoạ Trần Văn Cẩn qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1994 tại Hà Nội ở tuổi 84. Ông thực sự xứng đáng với những danh hiệu và phần thưởng cao quý: Nhà Giáo Nhân Dân, Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật Cộng Hoà dân Chủ Đức, Giải Thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Nhiều tác phẩm của ông đã nhận được các giải thưởng:  Giải Nhất các triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1960, 1976, 1980

Danh hoạ Trần Văn Cẩn được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Hai, Huân chương lao động hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Vì  sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, Vì thế hệ trẻ… Huy chương kỷ niệm Lê nin,

Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn là tấm gương sáng về lao động sáng tạo nghệ thuật và trách nhiệm trong công tác. Tên tuổi và tác phẩm của ông sống mãi với nhân dân, với đất nước, và trong mỗi chúng ta.

TRẦN KHÁNH CHƯƠNG – Theo wikipedia Tiếng Việt

KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY SINH NHẠC SĨ, HỌA SĨ, THI SĨ VĂN CAO (1923 – 2013): CÓ MỘT HỌA SĨ TÀI BA, VĂN CAO

Văn Cao nổi tiếng với nhiều bài hát từ trước Cách mạng Tháng 8, đặc biệt là bài hát “Tiến Quân ca“, sau này được chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhiều bài hát trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau thời kỳ thống nhất đất nước đã đưa ông vào vị trí một nhạc sĩ hàng đầu tài danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, Nghệ thuật đợt I (1996 – ngành Âm nhạc). Văn Cao cũng là một nhà thơ với nhiều tác phẩm đi vào lòng người.

Xem thêm:

Chân dung Văn Cao tự họa
Chân dung Văn Cao tự họa

Nhạc và thơ của ông hình như đã làm cho nhiều người quên ông là một hoạ sĩ với nhiều tác phẩm xuất sắc. Được biết, trước Cách mạng Tháng Tám ông cũng đã theo học “bàng thính” tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương một thời gian ngắn, nhưng rồi với làn sóng cách mạng sôi sục, ông đã sáng tác nhiều bản nhạc mang hơi thở của thời đại. Âm nhạc và thơ ca đã cuốn hút ông và đã đưa ông đến vị trí là một nhạc sĩ hàng đầu của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Vì không am hiểu nhiều về âm nhạc và thơ ca nên tôi không dám “bình” nhiều về hai lĩnh vực này của ông.

Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm
Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm

Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc tới một Văn Cao hoạ sĩ mà những đóng góp của ông cho nghệ thuật hội hoạ Việt Nam rất đáng trân trọng và ghi nhận. Về sáng tác Mỹ thuật, khi ở tuổi 20, ông đã có những sáng tác dự triển lãm Duy nhất, 1943 với phong cách lập thể, được biết đến như một hoạ sĩ tiên phong với các tác phẩm: Cô gái dậy thì, Sám hối, Nửa đêm, Cuộc khiêu vũ. Những năm sau, ông tiếp tục sáng tác các tác phẩm sơn dầu mà đến nay người ta còn nhớ tới như: Thái Hà ấp đêm mưa, chất liệu bột màu, năm 1943, nghĩa là đã cách đây 70 năm. Ngoài ra người ta còn nhớ tới một tác phẩm sơn dầu khác sáng tác sau đó một năm, năm 1944, đó là tác phẩm Sám hối nửa đêm, rồi sau đó là bức Ngõ Nguyễn Du, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám, Văn Cao là phóng viên tham gia trình bày “Báo Lao động” thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lên chiến khu Việt Bắc và tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời kỳ này, Văn Cao nổi tiếng với âm nhạc. Trong điều kiện thiếu thốn hoạ phẩm nên với hội hoạ, ông có phần xao nhãng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ tới một số tác phẩm của ông sáng tác trong thời kỳ này, thể hiện tình cảm của ông đối với cuộc kháng chiến chống Pháp như tác phẩm Cây đàn đỏ, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1949; Lớn lên trong kháng chiến, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1952.

Thiếu nữ hái chè - Văn Cao
Thiếu nữ hái chè – Văn Cao

Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, Văn Cao đã có nhiều đóng góp cho nghệ thuật tạo hình. Giới văn nghệ Việt Nam, trong đó có Mỹ thuật không thể quên những minh hoạ của Văn Cao trên các báo Văn, Văn Nghệ… với một bút pháp riêng, sử dụng nhiều nét thẳng và đơn giản và có chữ ký là “VĂN” rất đơn giản nhưng giới Mỹ thuật ai cũng biết đó là minh hoạ của Văn Cao. Cũng trong thời kỳ này, ông làm nhiều bìa sách, và cũng tạo được một phong cách riêng rất Văn Cao. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sau ngày thống nhất đất nước, Văn Cao không chỉ có minh hoạ làm bìa mà còn vẽ nhiều tranh sơn dầu có giá trị nghệ thuật cao. Mọi người đều không thể quên bức tranh sơn dầu có giá trị đuợc trưng bày trong các Triển lãm và lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Chân dung bà Băng, Chân dung nhà văn Đặng Thai Mai, Cô gái và đàn dương cầm, Dân công miền núi… với bố cục chặt chẽ, bút pháp hiện đại, sử dụng kết hợp giữ đường nét và những mảng màu lớn. Các bức tranh này đều thẫm đẫm tình cảm của người hoạ sĩ tài hoa…

Những tác phẩm cho ta thấy bên cạnh là một nhạc sĩ hàng đầu, một nhà thơ nổi danh, ông còn là một hoạ sĩ tài năng thuộc thế hệ đầu xây dựng nền Mỹ thuật hiện đại và cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam mà còn là hội viên lâu năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Tôi còn nhớ, trong một lần Nhà xuất bản Mỹ thuật giới thiệu cuốn sách Các hoạ sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương của hoạ sĩ Quang Phòng, nhiều tác giả thuộc thế hệ của ông đã có mặt cùng vui chung với cuốn sách này. Văn Cao cùng với vợ ông cũng đã đến dự, tôi đã xin được chữ ký của ông cùng các hoạ sĩ thế hệ Mỹ thuật Đông Dương vào dưới các tác phẩm in trong cuốn sách và có dịp để chuyện trò với ông… Tôi cũng không lý giải được vì sao một số hoạ sĩ có tên tuổi của Việt Nam như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Nguyễn Đức Toàn… trước cách mạng đều đã từng học “bàng thính” trường Mỹ thuật Đông Dương một thời sau này đều trở thành những nhạc sĩ tên tuổi của ngành âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, Hải Phòng. Nguyên quán tại thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông nhiều năm sống và làm việc tại Hà Nội và mất ngày 10 tháng 7 năm 1995 tại Hà Nội.

Xem chi tiết về Văn Cao tại đây

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao, Hội Mỹ thuật Việt Nam và giới Mỹ thuật Việt Nam luôn nhớ đến ông, một hoạ sĩ tài hoa có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Trần Khánh Chương

Quách Phong và bức tranh Sài Gòn Giải Phóng

Ấn tượng về họa sĩ Quách Phong (Quách Văn Phong hay Nguyễn Anh Việt) là một người khiêm nhường, giản dị với những bức tranh sơn mài có bút pháp mạnh mẽ thể hiện đề tài “Chiến tranh cách mạng”, trong đó tác phẩm “Sài Gòn giải phóng” là một điểm nhấn trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam khiến người ta nhớ đến vào dịp 30 tháng 4 năm 1975, kỷ niệm ngày chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Sinh ra trong một gia đình kháng chiến có truyền thống cách mạng ở tỉnh Vĩnh Long miền Tây Nam Bộ, gia đình đã cho ông theo học ở trường Mỹ thuật Gia Định, ông tham gia đấu tranh trong phong trào sinh viên vẽ truyền đơn. Năm 1955 ông được đưa ra Bắc học khóa hai hệ trung cấp tại trường Mỹ thuật Việt Nam nay là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (42 Yết Kiêu – Hà Nội) sau được tuyển thẳng lên hệ cao đẳng, học đến năm thứ 3 (tình hình cách mạng nước ta đến hồi ác liệt), 1963 khi 25 tuổi Quách Phong xung phong nhập ngũ vượt Trường Sơn trở về quê hương chiến đấu.

Được tổ chức phân công về Quân khu chiến khu Bác Ái – Ninh Thuận, lấy bí danh là Nguyễn Anh Việt với nghĩa là Việt Nam anh hùng, họa sĩ Quách Phong sống, làm việc, chiến đấu cùng các chiến sĩ, đồng bào.

Thời kỳ này các sang tác của họa sĩ chủ yếu là ký họa, tranh cổ động phục vụ chiến đấu. Ông đi khắp các chiến trường, bên cạnh ba lô, cây súng còn bút, giấy màu, có điều kiện là ông vẽ trực tiếp về chiến sĩ, đồng bào trong sản xuất, chiến đấu, vẽ những tấm gương điển hình tiên tiến. Họa sĩ đã vẽ hàng nghìn bức ký họa, ông tổ chức nhiều triển lãm lưu động, bày tranh tại trận cho bà con, chiến sĩ xem, các tác phẩm của ông có tác động rất lớn động viên tinh thần chiến đấu.

Năm 1973, Nguyễn Anh Việt từ chiến trường ra Hà Nội hoàn thành nốt chương trình cao đẳng mỹ thuật tại trường cũ. Một cơ duyên đã dẫn họa sĩ đến với sơn mài, chất liệu truyền thống dân tộc. Họa sĩ Nguyễn Văn Tâm (trước là bạn đồng học nay là thầy) chỉ cho Quách Phong vẽ tranh sơn mài. Năm 1974 ông được cử đi nghiên cứu sinh ở Bungari, khi Bộ Đại học mời ông lên nhận hộ chiếu thì nghe tin quân ta đánh tới Đà Nẵng, Quách Phong bỏ cơ hội học sau đại học trở về miền Nam để dự trận đánh lịch sử mà ông vẫn nói vui là cho trọn vẹn bộ sưu tập của chiến tranh. Chính vì vậy ông đã được tham gia, chứng kiến trận 30 tháng 4 lịch sử, giây phút Sài Gòn giải phóng, để sáng tác thành công tác phẩm Nắng Tháng Năm (bột màu), vẽ ngay đêm 30/4/1975 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Sài gòn giải phóng (Sơn mài) trưng bày tại Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông – Quân khu 7.

Giải phóng sài gòn - Quách Phong
Giải phóng sài gòn – Quách Phong

Có thể nói bức Nắng tháng Năm là bức ký họa cuối cùng trong tập ký họa về chiến trường của Quách Phong. Khi bộ đội tiến về giải phóng Sài Gòn vào 30/4/1975, kết thúc ngày cuối của tháng 4, tác giả chọn thời điểm vào tháng năm là ngày hôm sau, ngày mai tươi sáng khi thành phố hoàn toàn giải phóng. Trung tâm bức tranh là các chiến sĩ trang phục màu xanh ngồi trên xe tăng bên tháp pháo, xung quanh, trên trời là những lá cờ đỏ sao vàng, cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng tung bay tạo không khí rộn rã, tưng bừng, xốn xang. Những tà áo dài trắng của các nữ sinh (một hình ảnh rất đặc trưng của Sài Gòn) tung bay ngời sáng, mấy nữ du kích, tự vệ đội mũ tai bèo nét mặt hồ hởi. Ánh sáng như nhảy múa được họa sĩ thể hiện qua các đường chạy của mảng sáng tối tạo cảm giác về niềm vui náo nức của ngày giải phóng. Cũng chủ đề này Quách Phong đã tiến tới một bố cục công phu hơn để vẽ bức sơn mài Sài Gòn giải phóng mà 7 năm sau ông mới hoàn thành. Trung tâm bức tranh là cảnh gặp gỡ giữa người dân và chiến sĩ giải phóng. Phía bên trái là cô nữ sinh đi xe đạp tay giơ cao như vẫy chào, cậu thiếu niên cầm chum bóng, bên phải bức tranh là hai cô gái mặc áo dài hoa quay mặt vào nhau, xen giữa là gương mặt nữ chiến sĩ giải phóng. Hai em bé tay cầm vòng nhảy múa. Phía đằng sau các chiến sĩ ngồi trên xe tăng giơ tay chào đón. Góc phải bức tranh trên ô tô tải, bộ đội cúi người giơ tay vẫy những người dân chào đón đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ tung bay trên tháp pháo, bay rợp trời. Phía trên là hình ảnh Bác Hồ như ẩn hiện… khác với bức Nắng Tháng Năm thể hiện niềm vui háo hức, bừng lên thì ở Sài Gòn giải phóng lại có độ trầm sâu (có thể do hiệu quả chất liệu). Họa sĩ thể hiện góc nhìn ở nhiều điểm khác nhau tạo sự mở cho bố cục, làm bức tranh vừa hiện thực vừa khái quát.

Sau này, họa sĩ Quách Phong tham gia công tác là Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Hội đồng giám khảo của Hội, các cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần), cuộc thi và triển lãm mỹ thuật ASEAN do Bộ Văn hóa tổ chức. Bức tranh Sài Gòn giải phóng cùng với Mùa gặt mới ở Củ Chi, Xuống đường Mậu Thân 1968 là các tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Quách Văn Phong được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007”.

Khiêm nhường và kiên định, họa sĩ Quách Phong xác định lý tường thẩm mỹ của mình là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Các tác phẩm của ông là sự lao động cần cù bền bỉ của một chiến sĩ, họa sĩ đã góp lao động, xương máu cho sự nghiệp cách mạng, là một chiến sĩ văn hóa góp phần cho sự nghiệp giải phóng quê hương. 40 năm qua, tác phẩm sơn mài Sài Gòn giải phóng là một điểm nhấn, là sự đóng góp của hội họa đối với lịch sử.

Trần Thị Quỳnh Như

Họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988)

BÙI XUÂN PHÁI (sinh ngày 1- 9- 1920, mất ngày 24- 6- 1988 tại Hà Nội) quê ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông theo học tại Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá XV (1941 – 1946); hội viên ngành hội hoạ Hội Mĩ thuật Việt Nam từ 1957.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái
Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bùi Xuân Phái tham gia Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội; hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền ở Liên khu III và Việt Bắc (1947- 1952); viết báo và minh hoạ báo tại Hà Nội (1952 – 1954); giảng viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam (1956 – 1957); hoạ sĩ tổ sáng tác Hội Mĩ thuật Việt Nam. Trong quá trình sáng tác ông đã được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Xem tranh của ông, người ta phát hiện ra một đời sống tinh thần riêng đầy quyến rũ của những khu phố cổ Hà Nội, một phong cách riêng, thường được gọi là “Phố Phái”. 

Trước giờ biểu diễn - Bùi Xuân Phái
Trước giờ biểu diễn – Bùi Xuân Phái



Trong sự nghiệp của mình, ông không chỉ vẽ về phố mà còn vẽ nhiều đề tài về nghệ thuật chèo, về nông thôn, về vùng mỏ, chân dung… Ở mỗi đề tài, ông đều để lại những tác phẩm tiêu biểu và được đánh giá cao. Ông đã có 6 triển lãm cá nhân tại Hà Nội. Đã có nhiều cuốn sách viết về ông, gần đây nhất có mấy bộ sách “Bùi Xuân Phái – cuộc đời và tác phẩm” do NXB Mĩ thuật in của hai tác giả là hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (con trai ông) và nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn. Bộ sách đã tập hợp tương đối đầy đủ các tư liệu về cuộc đời nghệ thuật của Bùi Xuân Phái. Hiện nay, tranh của ông được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và trong nhiều bộ sưu tập cá nhân trong và ngoài nước. Riêng ngôi nhà của ông, số nhà 87 phố Thuốc Bắc, Hà Nội được coi như một bảo tàng nhỏ, trưng bày những tác phẩm của ông và con ông. 

Phố hàng Mắm - Bùi Xuân Phái
Phố hàng Mắm – Bùi Xuân Phái


Tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được tặng giải thưởng tại Triển lãm Mĩ thuật tháng Tám năm 1946; Giải Nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc năm 1980; Giải thưởng Triển lãm Đồ hoạ tại Leipzig- Đức; Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật Thủ đô các năm 1969, năm 1981, năm 1983 và năm 1984.

Năm 1996 hoạ sĩ Bùi Xuân Phái được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm: Hà Nội kháng chiến – Sơn dầu- 90x110cm (1954); Vợ chồng chèo – Sơn dầu (1967); Sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Hóa trang sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Xe bò trong phố cổ – Sơn dầu (1972); Phố cổ Hà Nội – Sơn dầu (1972); Phố vắng – Sơn dầu (1981); Trước giờ biểu diễn – Sơn dầu- 60x80cm (1984).

Nhớ Văn Cao

Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi trong lần họp Đại hội Nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV là được gặp và vẽ họa sĩ tài danh Văn Cao. Ông vốn là một nghệ sĩ đa tài được mệnh danh là “Cầm, kỳ, thi, họa”, là một nghệ sĩ hiếm hoi của Việt Nam mà bước lãng du nghệ thuật lĩnh vực nào cũng để dấu ấn sâu đậm.

Tháng 12/1994. Đại hội đại biểu nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV họp tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, với hơn 300 đại biểu đại diện cho hơn 1.100 hội viên dự. Họp tới ngày thứ hai, tôi mới thấy Văn Cao trên hàng ghế đầu. Ngay lập tức tim tôi rung lên. Một ông già nhỏ bé với đôi mắt sâu đen thẫm, mái tóc bạc như sương ấy thu hút tôi kỳ lạ.

Nghe danh ông đã lâu, lại học ở cùng phố có nhà của ông (Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội ở phố Yết Kiêu) song có lẽ do mặc cảm mình quá nhỏ bé trước ông nên tôi chưa một lần dám gặp. Giờ giải lao, ông được một phụ nữ cũng cao tuổi, tóc bạc nhưng còn khỏe đỡ ông đi ra sân, đó là bà Băng – vợ ông. Tranh thủ lúc mọi người đang tìm nhau hàn huyên, tôi lách đến bên bà và xin phép được hỏi thăm ông. Sau vài lời giới thiệu, tôi hát khe khẽ để ông và vợ ông nghe:

“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau ven rừng âm u…”. Mắt ông sáng lấp lánh khi nghe tôi say sưa hát; có lẽ ông hơi ngạc nhiên vì không ngờ anh chàng họa sĩ “tỉnh lẻ” như tôi ở xa tít tận Đà Lạt lại thuộc bài hát của ông đến thế. Có nhiều họa sĩ thấy vậy cũng kéo đến hòa giọng hát với tôi: “Trên dòng sông trở về đoàn người, reo mừng vui trên sóng nước biếc…”. Có lẽ tới mấy “bè” vì không phải ai cũng thuộc bài Sông Lô. Hát xong tôi chợt nghĩ: “Phải có một tấm hình kỷ niệm với ông”. ý nghĩ ấy lóe lên và tôi nhờ họa sĩ Hoài Phi (Tp. Hồ Chí Minh) chụp giúp, đông người đến chụp cạnh ông và tôi. Phải 7 năm sau tấm ảnh này mới đến tay tôi. Tôi không thể ngờ được rằng đây là tấm ảnh quý giá mà tôi có vì chỉ 8 tháng sau (7/1995) ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của đông đảo người yêu âm nhạc và nghệ thuật cả nước.

Hết giờ giải lao mọi người vào. Tôi cùng bà Băng đỡ ông vào ngồi. Tôi không còn chú ý đến cuộc họp nữa mà lao vào vẽ chân dung ông. Bức chân dung phấn màu tôi còn giữ đến nay kể cả chữ ký của ông thật quý giá với tôi.

Sự nghiệp thơ – nhạc – họa Văn Cao thật đồ sộ, song tôi vẫn cho rằng thơ và nhạc ông thành công hơn cả. Không phải bất cứ nhạc sĩ nào trong cuộc đời mình cũng được dân tộc tôn vinh một bài hát để trở thành Quốc ca. Ông đã viết bài Tiến quân ca ở Hà Nội trong những ngày mới tìm đến cách mạng và được Quốc hội khóa 1 công nhận là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước đó nhiều ca khúc đã mang lại cho ông sự ngưỡng mộ của công chúng âm nhạc. Nếu ca khúc Buồn tàn thu ông viết ngay từ khi mới 18 tuổi (1941) còn hơi hướng nghệ sĩ lãng mạn thì những Thiên thu, Trương Chi, Suối mơ ông đã đổi mới sáng tác, cách tân về giai điệu, khúc thức và hướng về âm nhạc dân tộc.

Sau Tiến quân ca, ông cùng Nguyễn Đình Thi hẹn nhau viết 2 bài hát cho Việt Minh kháng Nhật; Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít còn ông với ca khúc Chiến sĩ Việt Nam. Một loạt các ca khúc cách mạng khác của ông đều mang dấu ấn rõ nét: Tiếng gọi công nhân, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Tiến về Hà Nội, Bắc Sơn, đặc biệt là Trường ca sông Lô… là những ca khúc hùng tráng, nhưng vẫn mang phong cách thư thái, đĩnh đạc của tâm hồn con người Việt Nam.

Với hội họa, Văn Cao tham gia triển lãm Salon Unique (duy nhất) 1944 tại Hà Nội với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Nhiều bài báo đã nhắc đến 3 tác phẩm này với lời nhận xét trân trọng.

Nhận xét về hội họa Văn Cao, Thái Bá Vân – nhà phê bình mỹ thuật Việt Nam viết:

“ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh… Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: Chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sĩ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa… Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc… Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát…”.

Trong lời vĩnh biệt nghệ sĩ đa tài Văn Cao, giáo sư – nhạc sĩ Thế Bảo viết:

“Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

Cuộc đời người nghệ sĩ đa tài lắm truân chuyên ấy qua bao thăng trầm. Rất may sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, trong không khí đổi mới của văn nghệ, những “Đêm nhạc Văn Cao” được tổ chức liên tục ở thành phố Hồ Chí Minh (1986) và Chương trình nhạc Văn Cao tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Hà Nội (1987)… Công chúng yêu âm nhạc ở Thủ đô và cả nước thật bồi hồi xúc động lắng nghe những ca khúc mượt mà, hùng tráng của ông được trình diễn.

Ngày ông mất, Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng cũng tổ chức lễ tưởng niệm ông tại 18 Lê Hồng Phong – Đà Lạt. Trong không khí trang trọng sâu lắng, tôi cùng nhạc sĩ Mạnh Đạt hát bài Trường ca sông Lô và tất cả những người dự đã cùng hát trong âm hưởng bi tráng.

Vi Quốc Hiệp

Bức tranh “Phù Vân” của Trần Quang Trân

Trong lịch sử hội họa Việt Nam hiện đại, Trần Quang Trân là một họa sĩ có một vị trí đặc biệt.

Bức bình phong “Bụi tre bóng nước” (1932, sáu cánh, mỗi cánh 110x25cm) của Trần Quang Trân đã được xem là bằng chứng đầu tiên khẳng định phẩm chất “hội họa” đích thực của cái gọi là “tranh sơn mài Việt Nam”.

Trong cuốn hồi ký (chưa bao giờ xuất bản) của ông, Trần Quang Trân cũng đã gọi bức tranh đó là một “phát minh”.

Bức tranh “Phù Vân”

Trên thực tế, Trần Quang Trân để lại rất ít tác phẩm. Ngoài một số tranh sơn dầu, thuốc nước, mực nho, ký họa chì than, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được bất cứ một bức tranh sơn mài nào khác của ông. Ngay bức “Bụi tre bóng nước”, bức sơn mài đầu tiên đã kể trên, trước thuộc bộ sưu tập của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cũng đã bị thất lạc đi đâu mất trong thời gian đầu kháng chiến chống Pháp.

Bởi vậy, bức tranh “Phù vân” giới thiệu ở đây, vốn thuộc sưu tập của họa sĩ Năng Hiển (Duy Nhất), nay thuộc sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Hà Nội, cũng thuộc hàng “của hiếm”, khi tìm về sự nghiệp hội họa của Trần Quang Trân.

Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân
Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân

Đôi nét về Trần Quang Trân

Họa sĩ Trần Quang Trân (1900-1969), bút danh “Ngym”, sau đổi thành “Nghi Am”. Sinh ở huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông đã từng tham dự kỳ thi hương cuối cùng ở Bắc Kỳ (1915). Một thời gian làm thư ký Tòa sứ Tuyên Quang.

Tốt nghiệp Trường Thương mại, ông làm việc tại Sở dầu Hải Phòng và Nhà máy đèn Đáp Cầu.

1927-1932, ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 3. Nhờ có biết chữ Nho, ông làm trang trí rất đẹp (giải thưởng áp phích Đấu xảo Paris 1931). Đi vẽ ở Lào Cai (1929), ở Thanh Hóa, Nghệ An (1930).

Học nghề sơn ta qua nghệ nhân Đinh Văn thành, kết hợp nghiên cứu đồ sơn ở Viện Viễn Đông Bác Cổ, Trần Quang Trân đã sử dụng vàng quỳ rây vụn (bột vàng) và bột son trên nhiều lớp sơn, qua khâu mài, để tạo ra các sắc độ và ánh sáng. Đây chính là kỹ thuật nền tảng để sau đó các họa sĩ Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Gia Trí đã hoàn thiện và đẩy lên thành kỹ thuật sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie), làm nên một thời kỳ vàng son của hội họa sơn mài Việt Nam.

Ra trường, tại Hà Nội, ông mở xưởng sơn mài ở 87 phố Charron (nay là phố Mai Hắc Đế) và ở phố Tố Tịch, làm hàng và sửa chữa đồ cũ, đồng thời sáng tác một số tác phẩm trên đồ vị lợi, vẽ minh họa và phụ bản cho một số báo: “Bắc Kỳ Thể thao”, “Đông Tây”, “Tiểu thuyết Thứ Bảy”, “Cậu ấm”, “Vịt đực”. Đầu thập niên 1940, ông dạy vẽ ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long và từ 1949 ở Trường Mỹ nghệ.

1958-1962, Trần Quang Trân làm việc tại Xưởng phim truyện Việt Nam, Xưởng phim hoạt hình Việt Nam và tham gia giảng dạy tại Trường Điện ảnh Việt Nam.

Là một họa sĩ, nhưng Trần Quang Trân luôn luôn có phong thái của một nhà nho. Ông có sở thích vẽ sư sãi, các công trình kiến trúc cổ, cây cối, mặt nước, với bút pháp ngả về cổ điển. Bức tranh “Phù vân” là một thử nghiệm khá lạ của Trần Quang Trân, khi ông kết hợp kỹ thuật vẽ thuốc châu Âu với kỹ thuật đồ họa thư pháp Á Đông, để tạo ra được một kiểu không gian hư ảo như tiên giới, không Tàu mà cũng chẳng Tây, mang đậm một cảm thức thiền, gần gũi, không xa cách.

“Một Quãng Đường” – Nguyễn Thị Mai Thanh

Họa sĩ Nguyễn Thị Mai Thanh sinh năm 1958 ở Phú Thọ. Chị tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Mỹ thuật năm 1977, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1984 và có nhiều năm gắn bó với công tác giảng dạy. Dáng người mảnh khảnh, ăn mặc trẻ trung, năng động, đi đứng nhẹ nhàng, nói năng dịu dàng… dễ cho người đối diện hình dung một Mai Thanh khó có thể dữ dội với những nét bay thoáng hoạt và những hình ảnh trừu tượng dồn dập đầy cảm xúc trong những bức sơn dầu.

Tháng 6 - Nguyễn thị Mai Thanh
Tháng 6 – Nguyễn thị Mai Thanh

Chị tâm sự, triển lãm “Một quãng đường” diễn ra vào tháng 1/2016 tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như để trải lòng về “một chặng đường” lao động và sáng tạo trong hành trình khám phá với nghệ thuật hội họa. Một quãng hành trình để bay, để thả tâm hồn mình theo những trận gió, những chiếc lá, những cánh bướm, những đàn cá bơi… khát khao tự do trong tự do của bút pháp tạo hình không câu nệ vào những luật lệ.

Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG - Nguyễn Thị Mai Thanh - 2015
Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG – Nguyễn Thị Mai Thanh – 2015

Chị quan niệm, không có luật lệ nào cho nghệ thuật. Tác phẩm hội họa là nơi gửi gắm tâm hồn, không phải nơi phô diễn kỹ thuật; kỹ thuật vẽ là để phục vụ sự biểu đạt cảm xúc. Hội họa không phải là thứ để thay thế nghệ thuật minh họa. Nó cần được người xem cảm nhận bằng tâm hồn, cùng tham gia khám phá cái đẹp của ngôn ngữ tạo hình thông qua khả năng biểu cảm mang tính vật chất của chất liệu. Nó không cần sự cố gắng lý giải bằng một ngôn ngữ khác.

Tác phẩm NHẢY MÚA - Nguyễn Thị mai Thanh
Tác phẩm NHẢY MÚA – Nguyễn Thị mai Thanh

Một quãng đường” cũng có thể ví như là “một quãng bay” của Mai Thanh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy cảm xúc… tác phẩm thể hiện lối vẽ phóng tác từ cảm nhận thực tế nhưng không tả mà thiên về biểu đạt những ấn tượng cảm xúc của cá nhân về hiện thực. Tại triển lãm “Một quãng đường” lần này của chị tranh có khuynh hướng trừu tượng và khai thác nội tâm nhiều hơn.

Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh - Nguyễn thị mai thanh
Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh – Nguyễn thị mai thanh

Gắn bó với công tác giảng dạy tại khoa Sư phạm Mỹ thuật, trường Sư phạm Nhạc hoạ Trung ương (nay là trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW). Nhưng chị chỉ thực sự tập trung vẽ từ sau năm 2008. Họa sĩ Mai Thanh cũng đã tham gia một số triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Mỹ thuật Hà Nội như triển lãm Một nghìn năm Thăng Long Hà Nội, Mỹ thuật Toàn quốc năm 2010, triển lãm tranh cá nhân tại 16 Ngô Quyền Hà Nội năm 2011. Chị tham gia Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2012 và tới nay Triển lãm tranh “Một quãng đường” là kết quả sau 5 năm lao động từ triển lãm lần thứ nhất 2011.

Tác Phẩm Hồng Bay - Nguyễn Thị Mai Thanh
Tác Phẩm Hồng Bay – Nguyễn Thị Mai Thanh

Gần 40 tác phẩm của chị sẽ trưng bày trong triển lãm đầu xuân 2016 tại phòng triển lãm nghệ thuật của bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như một bức tranh đẹp của chị gửi đến đồng nghiệp, bạn yêu mỹ thuật, góp một sắc màu nhỏ nhoi trong bức tranh toàn cảnh lớn của Mỹ thuật Việt Nam.

Bức tranh “Cô lái đò” của vua Đồng Khánh

Gần đây, nhiều tác phẩm nghệ thuật Việt Nam lưu lạc trên khắp thế giới đã xuất hiện trở lại trước công chúng, thông qua các cuộc đấu giá quốc tế.

Một số bức tranh của Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị… – thực sự đã làm cho chúng ta sửng sốt, không chỉ vì những giá trị nghệ thuật đặc biệt cao, mà còn vì những khoản tiền lớn mà người ta đã phải bỏ ra để sở hữu được chúng.

Bức tranh cô lái đò
Bức tranh cô lái đò

Không chỉ có vậy. Thông qua các cuộc bán đấu giá, chúng ta còn có may mắn phát hiện thêm nhiều điều bất ngờ về nghệ thuật Việt Nam. Tại Paris, ngày 24 tháng 11 năm 2010, một bức tranh nhan đề “Déclin du jour” (Xế chiều) của vua Hàm Nghi, đã được tìm thấy và được đem bán đấu giá, với số tiền thu được là 8.800 euros. Đến nay, số tranh của vua Hàm Nghi để lại thống kê được khoảng 100 bức.

Qua một cuộc bán đấu giá khác của Sotheby’s, một bức tranh vẽ “Đại nội Huế” cũng đã được bán. Đây có thể là dịp may đầu tiên để phát hiện thêm một họa sĩ Việt Nam sống ở thời kỳ cận đại: vua Đồng Khánh, với bút danh ký trên tác phẩm là “Ưng Mông”.

Vua Đồng Khánh sinh ngày 12 tháng giêng năm Giáp Tý, tức ngày 19 tháng 2 năm 1864; lên ngôi ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu (19 tháng 9 năm 1885), ở ngôi được ba năm; băng hà ngày 27 tháng chạp năm Mậu Tý (28 tháng 1 năm 1889), khi mới 24 tuổi.

Như vậy, về mặt niên đại, vua Đồng Khánh đã vẽ tranh cách ngày nay ít nhất 127 năm, trước vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi chỉ bắt đầu đi vào hội họa sau khi ông từ Alger sang Paris và được xem một cuộc triển lãm hội họa của Gauguin (mà theo một số nguồn tư liệu thì cuộc triển lãm đó đã diễn ra vào năm 1899, tức là đúng mười năm sau khi vua Đồng Khánh mất).

Thêm nữa, nếu vua Hàm Nghi vẽ tranh ở nước ngoài, thì vua Đồng Khánh vẽ tranh hoàn toàn ở trong nước. Đây cũng là điểm khác nhau quan trọng giữa hai ông về mặt nghệ thuật.

bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh
Bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh

Một bằng chứng thứ hai chắc chắn đã có được về hoạt động hội họa của vua Đồng Khánh – chính là một bức tranh hiện nằm trong sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Thủ đô Hà Nội. Bức tranh được vẽ bằng sơn dầu trên toan, tình trạng tốt, khổ 36x50cm, có chữ ký “Ung Mong” (chữ quốc ngữ, không dấu) ở phía dưới bên phải, và chữ “sampanière” (tiếng Pháp, có nghĩa là “Cô lái đò”) ở phía dưới bên trái.

Bức tranh này đã được bán ở Paris, tại Nhà đấu giá Drouot Richelieu danh tiếng lâu đời của nước Pháp, mở hồi 13h30 ngày thứ tư 18 tháng 11 năm 2015, mang số 572, cùng phiên bán một số tác phẩm nghệ thuật châu Á khác như các tranh khắc gỗ Nhật Bản của Hokusai, Utamaro, Hiroshige…

***

Việc tìm hiểu lý do và quá trình lĩnh hội nghệ thuật hội họa của vua Đồng Khánh chắc chắn cần có thêm nhiều thời gian. Nhưng cái nhã thú về “thi họa” của các bậc văn nhân, nhất là của các ông hoàng bà chúa thì không có gì khó hiểu.

Riêng ở bức “Cô lái đò”, vua Đồng Khánh quả tình đã đi vào một đề tài mang tính đặc trưng giai thoại như thường thấy. Bức tranh làm chúng ta liên tưởng tới một số bức họa hiện nay vẫn còn trong các nội thất kiến trúc cung đình Huế.

Tuy nhiên, cách thể hiện ở đây lại tỏ rõ một học vấn và kỹ năng hội họa khá vững vàng của nhà vua, với tư cách của một họa sĩ ít nhiều có chuyên môn, hơn là của một người yêu nghệ thuật vẽ tranh. Phối cảnh đơn giản, mở ra một góc nhìn rộng về phía thượng nguồn sông Hương, trong không khí của một chiều lành lạnh, với hiệu quả “lam-bạc” phớt xanh của mặt nước.

Cô lái đò không phải là một thiếu nữ bình dân, mà có cốt cách của một quý cô. Và đây cũng là một điểm đáng ghi.

***

Vua Đồng Khánh là người không chống Pháp. Ông được coi là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, mà theo một số đánh giá nào đó, thì sự kiện này đã góp phần làm “nhỡ” bước đi của lịch sử dân tộc.

Sự phức tạp và mẫn cảm của tinh thần và tâm hồn con người, đặc biệt của một vị vua, trong những điều kiện đầy xáo động của lịch sử như vậy, luôn luôn cần được nhìn ở nhiều góc độ. Hy vọng là từ những dấu vết hội họa đầu tiên này của vua Đồng Khánh để lại, chúng ta sẽ ngày càng tìm thêm được những bằng chứng mới để hiểu thêm về một nhà vua, với tầm vóc thực của một con người

www.Vietnamfineart.com.vn

Chiêm ngưỡng bộ ảnh nghệ thuật 18+ đoạt giả cao nhất hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam

Ảnh nghệ thuật 18+ của nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Phiên đã dành được rất nhiều lời khen có cánh trong triển lãm ảnh khỏa thân nghệ thuật. Bộ ảnh “Bước thời gian” với 15 bức ảnh xuất sắc tone màu trắng đen làm chủ đạo đã hiên ngang dành giải E.Vapa Gold (Tước hiệu cao nhất của Hội NSNA Việt Nam).

Anh-nghe-thuat-18-5
Ảnh khỏa thân nghệ thuật 18+ gây nhiều ý kiến trái chiều

Bộ ảnh khỏa thân này đã thay đổi nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam

Theo danh sách phong tặng tước hiệu E.Vapa năm 2014 của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam vừa công bố, có 5 NSNA được phong tặng tước hiệu E.Vapa Gold năm 2014 gồm: Hồ Sỹ Minh, Nguyễn Tất Bê, Ngô Quang Phúc, Hoàng Thạch Vân và Nguyễn Thái Phiên.

Đáng chú ý là tham gia đợt xét duyệt tước hiệu lần này, NSNA Thái Phiên trình làng bộ ảnh khỏa thân nghệ thuật “Bước thời gian” đã gây sự chú ý lẫn… khó chịu cho BGK. Kết quả, bộ ảnh này cùng với những thành tích trong hoạt động nghệ thuật đã mang về cho anh tước hiệu cao nhất của Hội NSNA Việt Nam: E.Vapa Gold. Đây cũng đánh dấu một sự kiện không nhỏ trong làng nhiếp ảnh Việt Nam: Hội đồng nghệ thuật đã chấp nhận ảnh khỏa thân.
Bộ ảnh “Bước thời gian” của NSNA Thái Phiên gồm 15 ảnh (theo thứ tự từ 1-15) là câu chuyện kể về những giai đoạn đáng nhớ của đời người phụ nữ. NSNA Thái Phiên đã dùng ánh sáng và ngôn ngữ nhiếp ảnh (sắc độ nặng – Low key lighting – sử dụng tông màu đen là chủ đạo) để diễn đạt nội tâm theo thời gian dần trôi… Bộ ảnh như một câu chuyện không lời nhưng rất có hậu của NSNA Thái Phiên, có cả niềm vui, nỗi buồn diễn biến theo tâm lý của một khoảng đời người phụ nữ…
Một thành viên của Hội đồng nghệ thuật Hội NSNA Việt Nam cho biết: Để đủ tiêu chuẩn để được xét giải, ngoài việc phải có 20 điểm TƯ và 4 HCĐ quốc gia trở lên hoặc HCV quốc tế (tổng 20 lần đoạt giải), tác giả còn phải trình 1 bộ ảnh chứng minh quá trình nghề nghiệp đủ sức thuyết phục Hội đồng giám khảo.

Được biết, đến năm 2013, số tác giả được phong tước hiệu E.Vapa Gold chưa đến 10 người và đây là lần đầu tiên Hội đồng nghệ thuật xét phong tước hiệu này cho một tác giả trình bộ ảnh khỏa thân nghệ thuật.

Xem qua bộ ảnh nghệ thuật 18+ Bước thời gian của Thái Phiên

Anh-nghe-thuat-18-1
Anh-nghe-thuat-18-1
Anh-nghe-thuat-18-2
Anh-nghe-thuat-18-2
Anh-nghe-thuat-18-3
Anh-nghe-thuat-18-3
Anh-nghe-thuat-18-4
Anh-nghe-thuat-18-4
Anh-nghe-thuat-18-5
Anh-nghe-thuat-18-5
Anh-nghe-thuat-18-6
Anh-nghe-thuat-18-6
Anh-nghe-thuat-18-7
Anh-nghe-thuat-18-7
Anh-nghe-thuat-18-8
Anh-nghe-thuat-18-8

www.vietnamfineart.com.vn

HỌA SĨ NGUYỄN GIA TRÍ – BỘ SƯU TẬP CỦA BẢO TÀNG MỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX nằm trong quá trình định hình và chuyển biến quan trọng của lịch sử Việt Nam cận – hiện đại. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây, sơn mài thoát mình từ sơn ta truyền thống, thực sự đánh dấu một kỷ nguyên mới về chất liệu, về phương tiện diễn tả một loại hình đặc trưng của dân tộc.

Những cống hiến cho sự sáng tạo thời kỳ này gắn liền với tên tuổi của danh họa Nguyễn Gia Trí, một họa sĩ hàng đầu, nổi tiếng trong loại hình nghệ thuật sơn mài tạo hình Việt Nam.

Đôi nét về họa sĩ Nguyễn Gia Trí

Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 tại Hà Tây – một trong những vùng đất nổi tiếng của nghề thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là nghề sơn ta. Năm 1928, ông theo học tại trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa IV, sau đó bỏ ngang và quay trở lại học vào khóa VII (1931 – 1936). Bằng tài năng và sự sáng tạo, ông là một trong những người có công lớn trong việc cải tiến, hoàn thiện và tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho chất liệu sơn mài. Từ 1954, ông vào Nam sinh sống và hoạt động sáng tác tại Sài Gòn, ông mất 1993.

Ngoài một số tác phẩm thuộc về các nhà sưu tập tư nhân, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan nhà nước sở hữu bộ sưu tập lớn nhất hiện nay, đặc biệt về tư liệu phác thảo của danh họa Nguyễn Gia Trí.

Bộ sưu tập gồm 133 tư liệu phác thảo trên giấy, giấy dán trên bìa cứng và giấy can với các chất liệu: bút dạ, bút bi, bột màu, sơn then, sơn cánh gián, chì than, màu sáp, màu nước… Các tư liệu phác thảo bao gồm các khổ lớn, nhỏ khác nhau: phác thảo nhỏ nhất có kích thước 15 x 11 cm và phác thảo lớn nhất có kích thước 172 x 230 cm. Tựu chung có thể hệ thống các tư liệu phác thảo của họa sĩ Nguyễn Gia Trí thành hai khuynh hướng sáng tác là tả thực và trừu tượng. Ở khuynh hướng tả thực có thể phân thành sáu mảng đề tài chính: đề tài phong cảnh – phong cảnh sinh hoạt, đề tài về tác phẩm “Vườn xuân Trung Nam Bắc”, đề tài về lịch sử, đề tài về sen, đề tài về động vật (chiếm số lượng ít nhất) và đề tài về phụ nữ (chiếm số lượng nhiều nhất).

Ở mảng đề tài phong cảnh – phong cảnh sinh hoạt, có thể ghi nhận phong cảnh đình chùa chiếm số lượng phác thảo nhiều nhất, kế đến là những phác thảo về hoa, về sinh hoạt nơi bến thuyền và phong cảnh lễ hội. Một số ít phác thảo phác họa toàn cảnh, còn lại phần lớn được thể hiện ở từng cụm hình, thông thường là các cây đại thụ gắn liền với các kiến trúc cổ, tuy vậy, mỗi phong cảnh ở từng phác thảo đều rất phong phú, mỗi hình, mỗi vẻ.

Những phác thảo về tác phẩm “Vườn xuân Trung Nam Bắc” được nhận diện hầu hết là những phác thảo về những hình họa đơn lẻ với những phác họa tổng thể về hình dáng, bên cạnh số ít phác thảo được thể hiện chi tiết gần như nguyên bản chính thức.

Với mảng đề tài lịch sử, dễ dàng nhận diện đây là những phác thảo cho hai tác phẩm “Hai Bà Trưng” và “Trận Bạch Đằng”. Các phác thảo được thực hiện trên khổ giấy lớn, hình họa được bố cục hoàn chỉnh, các nét vẽ chi tiết, thuần thục, kết hợp với việc sử dụng màu sáp, chì than, son, sơn then, các phác thảo có thể được xem như những tác phẩm thực thụ.

Phác thảo về sen được ông thực hiện chủ yếu ở lá sen. Những chiếc lá sen được ghi nhận từ cái nhìn tổng thể đến chi tiết, tỉ mỉ từng đường gân, sống lá, từng giọt sương li ti đến vẻ tươi tắn, sống động hoặc mủn, giòn của một chiếc lá héo chuyển sang khô.Tất cả được thể hiện thật phong phú và linh động dưới nhiều góc độ. Bên cạnh những phác thảo được vẽ bằng bút màu và chì than, vẻ đẹp của những chiếc lá sen dường như đẹp hơn, lung linh hơn ở những phác thảo được vẽ bằng chất liệu sơn cánh gián.

Những phác thảo về lân, rồng, đặc biệt ngựa, tôm là những đề tài hiếm hoi được ghi nhận, dường như ngựa và tôm là những đề tài mà Nguyễn Gia Trí có ý hướng muốn thể nghiệm.

Phụ nữ là một đề tài xuyên suốt được biết đến trong phần lớn những tác phẩm nổi tiếng của ông. Ở mảng đề tài này, những phác thảo được thực hiện phân đều giữa tổng thể và chi tiết. Có những phác thảo rất đơn giản, chỉ một vài nét bút đã phác họa nên hình một cô gái với các động tác biểu đạt (đứng, ngồi, hoặc nằm…) trong chiếc áo dài truyền thống. Có những phác thảo được thực hiện chi tiết hơn kết hợp với việc bố cục phong cảnh tạo nền cho các nhân vật thường là với môtip ba hoặc bốn cô gái. Trong những phác thảo này, mặc dù chỉ là những nét phác họa nhưng thần thái, phong cách không những rất sống động mà còn rất tự nhiên, chân thật.

Khuynh hướng thứ hai trong những phác thảo của danh họa Nguyễn Gia Trí thuộc thể loại trừu tượng. Với những vệt màu sáng tối, những hình vẽ lúc đơn giản như hoa văn của những vân gỗ, lúc lại phức tạp, đa chiều với những họa tiết gồ ghề, dọc ngang… hoặc như những tia pháo sáng, thật khó nắm bắt được ý tưởng và hình dáng. Dù đây chỉ là một khuynh hướng được Nguyễn Gia Trí sáng tác với tính chất thể nghiệm, tuy vậy ông đã rất thành công khi vận dụng trên chính chất liệu sơn mài.

Với trình độ bậc thầy về tả thực, bằng tài năng và kỹ thuật điêu luyện trong việc nắm bắt rất nhanh thực tại và thể hiện cái thần của sự vật chỉ trong vài nét bút, các tư liệu phác thảo đã thể hiện một thế giới lao động cần mẫn, dạt dào cảm xúc nhưng cũng đầy bí ẩn của hình và sắc qua bàn tay và khối óc của người họa sĩ. Về nội dung đề tài, ông định hướng “Cứ vẽ, gặp cái gì vẽ cái đấy. Vẽ cho nhanh, cho kịp cảm xúc của mình. Phải luyện mắt để nhìn, để thấy cái đẹp…”.

Vốn có tiếng tài hoa về hình họa, thế nhưng Nguyễn Gia Trí không lệ thuộc vào sao chép mà từ quan sát tinh vi thực tế cuộc sống, ông chắt lọc những chi tiết đắt giá nhất cho những bố cục hình họa của mình. Bên cạnh việc xác định trọng tâm là hướng vẽ đúng, về kỹ thuật, ông đã đúc kết: “Khi vẽ là chúng ta sử dụng cái hữu hình để nói cái vô hình…chủ yếu là do con mắt, nhìn hình chắc thì nét vẽ chắc, màu chắc”.

Từ những phác họa trên giấy, chúng ta cảm nhận được một chiều kích khác của quá trình sáng tạo nghệ thuật của một danh họa, với ông, các phác thảo có một tầm quan trọng đặc biệt bởi đó là phương tiện để ông thể hiện cái hình: “Hội họa là nghệ thuật tạo hình. Cái gốc của nó là tạo hình. Hình rất đa dạng, một chấm cũng là hình. Một nét, một phẩy cũng là hình.”

Đọc thêm: Sách “Trường mỹ thuật đông dương”

Như vậy, có thể nhận định, Nguyễn Gia Trí đã ý thức về tầm quan trọng tương đương giữa chất liệu và hình trên con đường sáng tạo vươn đến đỉnh cao của nghệ thuật, đó là yếu tố làm cho các tác phẩm sơn mài của ông thoát khỏi lối mỹ nghệ truyền thống và trở thành những tác phẩm hội họa. Trong các tư liệu phác thảo, nhiều bức có thể đứng như một tác phẩm, tuy nhiên toàn bộ những phác thảo này không được Nguyễn Gia Trí ghi nhận lại thời điểm sáng tác cũng như tên đề tài, một chi tiết gần như bắt buộc để hiểu về tiến trình nghệ thuật của ông, bởi có lẽ do ông quan niệm: “Tranh không có đề tài. Đề tài chính là chất liệu sơn mài”.
Quá nửa thế kỷ tìm tòi, sáng tạo và cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật, Nguyễn Gia Trí là một tấm gương sáng về tài năng và đạo đức nghề nghiệp, ông thực sự là một chân dung lớn của nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tự hào được vinh danh ông và xin trân trọng giới thiệu 114 tác phẩm và tư liệu phác thảo trong bộ sưu tập mỹ thuật quý giá về Nguyễn Gia Trí – nhà danh họa tiên phong trong việc xây dựng nền móng cho nền nghệ thuật nước nhà.

Nhà xuất bản Mỹ thuật