E-mail        Print        Font-size  
  • TÔI VẼ BÁC HỒ - NHÀ ĐIÊU KHẮC DIỆP MINH CHÂU

    Một hôm, một đồng chí đến trạm liên lạc gọi tôi:

    - Anh Châu, chuẩn bị đi, Bác gọi anh đấy!

    Các bạn, các bạn có thể tưởng tượng là tôi vui sướng như thế nào không? Bác gọi tôi! Thật là một điều tôi chưa dám mong đợi (sau này đến phục vụ Đại hội, tôi được biết không riêng gì tôi mà từng đồng chí Đại biểu, Bác cũng biết rõ, và nếu thấy đồng chí nào vắng mặt là Bác hỏi ngay). Tôi vác ba lô, đồ vẽ theo đồng chí dẫn đường mà lòng nửa mừng nửa lo: phải cố gắng tranh thủ dịp này để vẽ chân dung Bác, vẽ Đại hội lịch sử này cho thật nhiều, thật tốt mới được! Tôi biết rằng đây là một dịp rất hiếm có trong đời một nghệ sĩ. Tôi cũng hiểu rằng mình được vinh dự này không phải vì bản thân có thành tích gì đặc biệt mà Bác thương đồng bào Miền Nam gian khổ và anh dũng, tôi bỗng thấy trách nhiệm của mình thật nặng nề mà khả năng thì ít quá.

    Lúc còn ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tôi rất khâm phục Phan Đình Phùng, Phan Chu Chinh, những người thiết tha yêu nước, có chí khí. Thỉnh thoảng tôi được nghe nhắc đến một cái tên với thái độ rất trân trọng: Đồng chí Nguyễn ái Quốc. Một đồng chí cộng sản ở Bến Tre, quê hương tôi, cũng có nói đến đồng chí Nguyễn ái Quốc. Tôi muốn được biết nhiều về con người đó, nhưng không thể biết được gì hơn rằng, đó là một lãnh tụ cách mạng xuất sắc, một người đã hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sau cách mạng tháng 8/1945 anh em cho tôi biết thêm rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo cách mạng thành công chính là đồng chí Nguyễn ái Quốc. Tôi rất mừng và rất hy vọng có ngày được gặp.

    Tuy vậy, lúc đó tôi hiểu biết về Bác còn rất ít, đến hình dáng thế nào cũng không biết. Tôi cố tìm được một tấm ảnh Bác. Một hôm, tôi may mắn nhận được một bưu ảnh có chân dung Bác. Tôi mừng quá, giữ ảnh đó rất kỹ, đi đâu cũng mang theo. Trong ảnh, Bác rất gầy, chòm râu và mái tóc còn đen nhưng lơ thơ, nổi bật nhất là đôi mắt sáng mở to, trông hiền lành nhưng cương nghị lạ thường. Chỉ tấm ảnh đó cũng xác nhận những suy nghĩ của tôi về Bác: một con người bình dị, quên mình vì nước vì dân.

    Tuy chưa biết Bác, nhưng tôi được biết và khâm phục đạo đức của những cán bộ của Đảng trong bộ máy lãnh đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ và nghĩ một cách đơn giản: Những người học trò của Bác còn tốt như vậy thì Bác phải tốt đến mức nào nữa ...

    Cùng với niềm vui sướng được chiến đấu dưới cờ một vị lãnh tụ vĩ đại như vậy, trong tôi nảy nở một ước ao mới: vẽ Bác hay nặn tượng Bác. Tôi nghĩ rằng ngành chuyên môn của tôi, ngành điêu khắc, có nhiều khả năng để thể hiện những nhân vật lịch sử vĩ đại, nhưng hoàn cảnh kháng chiến lúc bấy giờ không cho phép tôi làm việc đó, nên tôi chỉ có thể vẽ Bác. Tôi dựa vào bức ảnh duy nhất nói trên để vẽ Bác, vẽ rất nhiều, vẽ đến thuộc lòng, không cần phải xem ảnh nữa. Tôi vẽ hình Bác để tặng chiến sĩ đang hành quân, tặng người sản xuất ở hậu phương và nhất là tặng những bà má chiến sĩ rất đáng yêu trong kháng chiến. Ai cũng nhận được cũng xem là một tặng phẩm rất quý báu.

    Nhưng có một điều làm tôi chưa thoả mãn là do hoàn cảnh kháng chiến, không làm sao tìm ra được một bức ảnh khác, trước sau tôi chỉ vẽ được có một kiểu. Bức tranh Bác tôi chích máu ở cánh tay và vẽ sau buổi kỷ niệm Độc lập 2/9/1947 ở Đồng Tháp Mười, cũng theo kiểu đó. Khi gửi bức thư tranh này tặng Bác, tôi có viết một bức thư để nói lên lòng thương mến vô hạn của tôi đối với Bác:

    Kính gửi Cha già: Hồ Chí Minh

    Kính Cha,

    Từ hai năm nay, tin Cha, vâng theo tiếng gọi của Cha, con đã đưa nghệ thuật của con nhảy vào hàng ngũ Vệ quốc đoàn khu Tám. Cách mạng tháng Tám mà cha già lãnh đạo đã giải phóng cho nghệ thuật của con. Hôm nay, trong cảnh vĩ đại của ngày lễ độc lập chưa từng có ở Nam Bộ sau khi nghe lời “tuyên ngôn độc lập” của Cha, lời kêu gọi thống thiết hùng mạnh của Cha và lời ca Hồ Chí Minh muôn năm của đoàn thiếu sinh Nam Bộ, con đã cảm xúc vô cùng và vừa khóc, con vừa cắt lấy dòng máu trong cánh tay niên thiếu của con để vẽ hình Cha và hình ba em nhỏ Trung, Nam, Bắc đang xúm đầu lại dưới chòm râu của Cha, trên nền lụa mà quân đội ta đã đánh tan quân địch đã chiếm lấy ở trận Giồng Dừa hồi tháng 4/1957.

    Thấy máu con chảy mọi người hoảng hốt băng bó, lo ngại. Con trả lời “Máu con là máu của Cha truyền cho, máu của con là máu của dân tộc, con có dám làm gì hao phí máu con đâu! Tất cả thân con, đời con là của Cha rồi.

    Con trân trọng gửi bức họa bằng máu của con đây lên Cha già để tỏ lòng biết ơn Cha đã giải phóng cho nghệ thuật của con, để tạo cho thể xác và linh hồn con thành lợi khí đấu tranh cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

    Kính chào Cha - Khu 8, 2/9/1947

    Hai năm sau (tức là năm 1949), đồng chí Lê Đức Thọ, dẫn đầu một phái đoàn của trung ương Nam Bộ, có cho người tìm tôi. Gặp tôi, đồng chí Thọ tỏ ra mừng rỡ:

    - Tôi tìm anh mãi. Trước khi lên đường vào Nam. Bác có dặn tôi tìm gặp cho được anh và chuyển lời Bác cám ơn anh về bức vẽ tặng Bác ...Thế là nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành đấy nhé!.

    Nghe đồng chí Thọ, tôi vui sướng đến chảy nước mắt. Từ đó, cái ao ước được gặp Bác để trực tiếp vẽ Bác luôn luôn bám chặt lấy tâm hồn tôi. Đó là hoài bão cao nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của tôi đối với lãnh tụ. Ước ao vậy chứ tôi cũng thấy khó mà thực hiện được, nhất là đối với những người ở xa trung ương như Nam Bộ chúng tôi. Tôi ngờ đâu chỉ hai năm sau (1951), trong lúc toàn dân còn đang chiến đấu quyết liệt với quân thù, vinh dự đó đã đến với tôi. Và tôi nghĩ rằng chính vì tôi là đứa con ở xa nên mới được vinh dự đó.

    Hôm ấy, tại Hội trường, Đại hội sắp khai mạc, anh Phạm Văn Đồng thân dẫn tôi đến chào Bác. Bác thân mật hỏi:

    - Chú Châu đã đến đấy à?

    Rồi Bác bắt tay tôi. Bằng giọng ấm áp, Bác hỏi thăm sức khoẻ, công việc của tôi. Bác hỏi đến đâu tôi chỉ biết vâng vâng dạ dạ đến đấy vì xúc động quá.

    Bác lại hỏi:

    - Chú đã vẽ được gì chưa?

    - Dạ thưa Bác, cháu mới vẽ được ít thôi.

    Tôi đưa Bác xem mấy ký họa tôi vẽ trong lúc chờ đợi. Bác động viên:

    - Chú cố vẽ đi nhé! Nhưng phải nhớ học tập chính trị và rèn luyện tư tưởng cho tốt. Có tư tưởng chính trị tốt thì vẽ mới chóng tiến bộ được.

    Tiếng Bác ấm cúng lạ thường. Tôi cứ đứng nhìn Bác mãi, bàn tay cầm mấy bức ký họa run run. Tôi nhìn Bác rất kỹ nhưng lòng xao xuyến quá.

    Tôi dự định sẽ vẽ Bác hôm khai mạc Đại hội, lúc Bác đọc diễn văn. Hồi đó, Bác vừa bước vào, cả Hội trường đã đứng dậy vỗ tay vang dội rất lâu. Mấy lần Bác ra hiệu nhưng tiếng vỗ tay không ngừng lại. Trước mắt tôi là con người bấy lâu mong gặp, con người mà tôi đã vẽ đến thuộc lòng, thế mà lòng tôi không thể nào giữ được bình thản, bàn tay tôi cứ run lên. Tôi chỉ kịp ghi nhanh mấy nét chính để giữ lại không khí hôm ấy, mong sau này sẽ dựng lại thành tranh với bố cục lớn.

    Mấy hôm sau, nhân đi thăm các đại biểu, Bác đến xem tranh tôi vẽ Đại hội. Tôi đánh bạo:

    - Thưa Bác, cháu muốn Bác phê bình tranh vẽ của cháu ạ.

    Bác xem tranh, lại nhìn sang anh Trường Chinh và anh Phạm Văn Đồng rồi cười nói:

    - Chú Châu vẽ có cái lạ... không đề tên cũng nhận được người.

    Tất cả chúng tôi đều cười vui vẻ trước câu nói dí dỏm của Bác. Được Bác động viên, tôi phấn khởi và thêm mạnh dạn trong ý định xin ở gần Bác để

    vẽ Bác.

    Một hôm, Bác gọi cho tôi điếu thuốc thơm:

    - Chú vào buồng bảo chú Chiến đưa cho nhé!

    Tôi cảm ơn Bác và đi vào lấy thuốc. Một lát sau, Bác vào ngả lưng trên chiếc giường con.

    Tôi mạnh dạn nói:

    - Thưa Bác, từ Miền Nam ra đây, cháu rất mong được gặp Bác, được vẽ Bác thật nhiều, để sau này cháu mang về Miền Nam cho đồng bào được thấy chân dung Bác. Cháu xin Bác cho cháu được ở gần Bác ít lâu để vẽ ...

    Tôi hồi hộp chờ ý kiến của Bác. Tôi biết Bác rất thương anh em Miền Nam, nhưng nói xong tôi vẫn lo, không biết nguyện vọng tha thiết của mình có được chấp nhận không.

    Nghe Bác nói đồng ý, tôi vui mừng khôn xiết. Vô cùng cảm ơn Bác! Vô cùng cảm ơn đồng bào Miền Nam đã cho tôi hạnh phúc có một không hai này!

    Bác bảo anh Chiến:

    - Sau Đại hội, chú nhớ đưa chú Châu về chỗ Bác nhé!

    Có lần Bác đưa tôi lên nhà. Đúng như cảnh “nhà sàn đơn sơ”mà anh Tố Hữu đã tả trong bài thơ Sáng tháng năm:

    Bác kêu con đến bên bàn

    Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ

    Con bồ câu trắng ngây thơ

    Nó đi tìm thóc bên bồ công văn

    ... Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị

    Màu quê hương bền bỉ đậm đà ...

    Ngoài chiếc máy đánh chữ, tất cả đồ dùng cá nhân, Bác cho vào cái bị nhỏ, Bác nói:

    - Khi cần đi, Bác chỉ cần mang cái bị là xong ngay.

    Vừa nói, Bác vừa khoác bị lên vai một cách rất gọn gàng. Bác thật là một bài học sống cho chúng tôi về tác phong quân sự hoá trong kháng chiến. Bây giờ ai cũng biết tấm ảnh chụp quang cảnh Bác đang xắn quần lội qua suối. Sự thật thì không phải Bác đang xắn quần đâu. Bác dùng một sợi dây luồn vào trong, treo ống quần lên thắt lưng, đi đường xa dốc núi không bao giờ quần bị xổ ra mà hai tay lại rảnh rang.

    Bác không hề đòi hỏi gì cho bản thân, nhưng đối với người khác thì Bác lại chăm sóc từng li từng tí, mặc dù Bác rất bận. Mỗi lần Bác đi công tác về, thật như mang cả một luồng sáng vào nhà, làm rộn lên cả cái tập thể nhỏ bé của chúng tôi.

    Những lúc nghỉ việc, Bác hay đến xem tôi vẽ. Có lần, xem một bức tranh, Bác nói:

    - Bác có ý kiến, chú đồng ý không?

    - Cháu xin Bác cho ý kiến ...

    Bác chỉ vào tranh

    - Chú vẽ nhà Bác chỗ này còn trống quá. Chú cho thêm con chó nhỏ của Bác vào đây nhé. Thường ngày nó vẫn nằm đây. Có người có vật cho nó vui... để Bác giữ nó lại cho chú vẽ nhé ...

    Nói xong, Bác vuốt ve con chó để nó nằm yên xuống cho tôi vẽ. Sợ mất thì giờ của Bác, tôi chỉ chấm màu vẽ qua một vòng làm dấu để vẽ kỹ sau.

    Thưa Bác xong rồi ạ!

    Không chú cứ vẽ nữa đi, để Bác ngồi giữ nó lại đây cho ...

    ở núi rừng Việt Bắc thường mọi người đều bị sốt rét. Bác cũng bị sốt rét. Cứ cách hai ba hôm, Bác lại uống ngừa ba viên ký ninh vàng. Lần nào uống thuốc, Bác cũng gọi phát đều cho chúng tôi mỗi người ba viên. Một buổi tối, Bác đi công tác về thì lên cơn sốt rét. Bác ngồi ôm cột, tay run run. Hồi lâu, Bác sờ trán thấy vã mồ hôi ra, Bác nói:

    - Bây giờ đỡ rồi!

    Tôi thương Bác quá. Hận mình không có phép gì để chuyển cơn sốt của Bác sang tôi, cho Bác đỡ đau, tôi chỉ còn biết nói:

    - Thưa Bác, Bác nằm nghỉ đi.

    Bác lắc đầu:

    - Công việc nhiều lắm. Không nằm được. Nằm xuống sẽ không dậy nổi!

    Có một lần khác, tôi hỏi Bác:

    - Thưa Bác, Bác thấy tranh cháu thế nào?

    Bác không trả lời thẳng cho tôi, mà gọi anh em đến xem và hỏi:

    - Các chú thấy tranh của chú Châu thế nào?

    Anh em mến tôi nên ủng hộ ngay

    - Vẽ giống lắm ạ!

    Bác cười:

    - Đấy, ý kiến quần chúng khen được. Thế là được.

    Tôi ở với Bác không đầy sáu tháng, nhưng cũng nhiều lần dời nhà. Trước khi đi khỏi ngôi nhà thứ hai, Bác lúi húi trồng một cây quýt, tôi lẩn quẩn theo Bác, giúp Bác xới đất cắm cọc xung quanh cây quýt nhỏ. Tôi nói:

    - Thưa Bác, mai ta dời đi rồi. Bác còn trồng làm gì? Bác đứng dậy ngắm nghía cây quýt mới trồng một lúc, như chợt nhớ câu tôi vừa hỏi, Bác lại nói:

    - à, mình đi thì trồng để mai sau qua ngang đây gặp ăn cũng được ...

    Bác còn là một tấm gương sáng về sự giữ gìn và rèn luyện sức khoẻ. Bất kỳ thời tiết nào, dù việc nhiều việc bận đến đâu, sáng nào Bác cũng tập thể dục. Có lần tôi được thấy Bác tập võ. Giữa cảnh núi rừng hùng vĩ, nhìn Bác phất phơ chòm râu bạc, đi một đường quyền uyển chuyển nhẹ nhàng, tôi có cảm giác như đang lạc vào một cảnh tiên, gặp một ông tiên nào đó. Bác cũng thường nhân những lúc ngồi nghỉ, ra ngồi câu cá bên bờ suối. Nhất là những đêm trăng sáng, Bác hay gọi chúng tôi đến kể cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện trong đời hoạt động của Bác. Và chúng tôi như những đứa cháu nhỏ quây quần chung quanh ông nội, nghe ông kể chuyện. Thật là những giờ phút suốt đời tôi không bao giờ quên được.

    Từ khi ra Việt Bắc, trong thời gian cùng anh em họa sĩ miền Bắc phục vụ Đại hội và những ngày được sống bên cạnh Bác, tôi đã cố gắng vẽ sao cho nhiều, cho tốt. Nhưng trình độ nghệ thuật của tôi có hạn. Được cử đi học nước ngoài để nâng cao nghiệp vụ, đó là nguyện ước lúc nào cũng canh cánh bên lòng tôi. Anh Trường Chinh rất hiểu điều đó. Một hôm anh bảo tôi đem tranh qua nhà cho anh xem. Cùng xem với anh hôm đó có Bác Tôn, anh Hoàng Quốc Việt, anh Nguyễn Đình Thi... Sau đó, trung ương quyết định cho tôi đi dự Hội nghị liên hoan thanh niên sinh viên quốc tế và cho tôi được ở nước ngoài học. Trước hôm lên đường mấy hôm, anh Trường Chinh gọi đoàn đại biểu đến, có anh Nguyễn Đình Thi, anh Lưu Hữu Phước, một số anh em khác và tôi. Anh dặn dò chúng tôi nhiều việc về cách xử thế, về đường lối cách mạng, đường lối ngoại giao rồi anh nói: “Kính già mến trẻ, vui vẻ với mọi người”. Phải nhớ điều đó. Có tình cảm chân thành, thật sự như thế, chứ không phải đó là thủ đoạn bề ngoài .... Mãi đến giờ tôi vẫn nhớ những lời dạy dỗ ấy, và lấy đó là phương châm sống, xử thế trong cuộc đời.

    Tôi trở về thưa với Bác:

    - Nay cháu được đi ra ngoài, chưa có kinh nghiệm xin Bác dạy bảo cho cháu.

    Bác nói:

    - Chú Trường Chinh đã bảo ban các chú đầy đủ rồi. Bác chỉ nói kinh nghiệm của Bác là: “Đến nước nào, mỗi ngày phải học mười tiếng của nước ấy. Học cho thuộc. Ngày sau lại học mười tiếng nữa. Không được quên. Cũng không quá cao hứng, học quá mười tiếng đó rồi có ngày lại không học một tiếng nào. Ba ngày học ba mươi tiếng. Lâu dần sẽ học được nhiều ...”

    Tôi biết rằng tôi học xong, trở về Bác sẽ không còn ở đây nữa. Tôi quyết vẽ cho xong quang cảnh nhà Bác, để mang theo. Thời gian trước mắt chỉ còn ba ngày, mà trời đất thì sớm chiều vẫn âm u. Chỉ vào khoảng giữa trưa, mặt trời mới chiếu rọi vài tia nắng xuống rừng. Tôi không nghỉ trưa, mỗi ngày chờ đúng giờ đó, nắng đó để vẽ cho xong.

    Tôi lên đường, ôm bức tranh theo. Bác bảo:

    - Tranh còn ướt mà chú mang đi, nó hỏng thì thế nào?

    Tôi thưa:

    - Dạ cháu biết chiều nay đi, cháu đã pha nhiều ét xăng vào thuốc vẽ, cầm đi đường gió một ngày sẽ khô.

    - ừ thế thì được!

    Tôi cúi đầu chào Bác, ra đi mang theo hình ảnh ngôi nhà Bác ở, thận trọng lách từng cành cây, chiếc lá, sợ bị quẹt hư ...

    (trích từ cuốn Mỹ thuật với Bác Hồ - Nxb Mỹ thuật)

Share:         LinkHay.com