 |
| Chiến khu Việt Bắc 1948: Bác Hồ đang xem bức tranh " Bác Hồ với ba cháu thiếu nhi Trung Nam - Bắc" của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu do đoàn đại biểu đ |
Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong điều kiện kháng chiến hết sức gian khổ, tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang - chiến khu Việt Bắc ngày 19 tháng 12 năm 1951 đã khai mạc triển lãm Hội họa nhân dịp kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến và chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 với hơn 300 tác phẩm đủ thể loại, chất liệu của nhiều họa sĩ tên tuổi, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đi kháng chiến và các họa sĩ đang học tập ở trường Mỹ thuật kháng chiến. Triển lãm đã đánh dấu một bước phát triển về đội ngũ, sự chuyển biến trong sáng tác của những người làm mỹ thuật kháng chiến.
Ngày 10/12/1951, Bác Hồ đã viết thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951. Bức thư thể hiện tình cảm và sự quan tâm của vị lãnh tụ đối với các nghệ sĩ tạo hình cũng như đối với Văn học - Nghệ thuật. Mở đầu thư Bác viết: “Gửi anh chị em họa sĩ. Biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được, tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo.
Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Trong thư Bác nhấn mạnh đến nhiệm vụ, lập trường, tư tưởng, sáng tác không những cho giới Mỹ thuật mà cho giới văn học - nghệ thuật nói chung. Về nhiệm vụ, Bác nhấn mạnh “…cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Ngày nay, trong điều kiện kháng chiến đã thành công, cả nước đang hướng về mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân vẫn là nhiệm vụ hàng đầu của giới Mỹ thuật chúng ta. Bác nhắc nhở: “Chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng”. Bác khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.
Năm 1945, sau khi nước ta giành được độc lập, trong bộn bề việc nước, đối phó với thù trong, giặc ngoài, Bác vẫn dành thời gian đến xem và thăm hỏi từng tác giả dự khai mạc triển lãm Văn hoá tại nhà khai trí Tiến Đức Hà Nội năm 1945. Bác đã nói chuyện với các họa sĩ, ý kiến của Bác rất mực chân tình và ấm áp tại triển lãm đã giúp cho nhiều họa sĩ chuyển biến trong suy nghĩ và trong sáng tác tác phẩm. Triển lãm được coi như là triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Năm 1946 tại phòng gương Nhà hát Lớn Hà Nội, một triển lãm Mỹ thuật lớn đã được tổ chức. Bác đã đến dự và nói chuyện với các tác giả, một số họa sĩ sau khi dự khai mạc đã lên đường Nam Tiến. Cũng vào thời kỳ này, thể theo giới thiệu của Hội Văn hoá cứu quốc, Bác Hồ đã cho phép các họa sĩ: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim vào Phủ Chủ tịch, vẽ và nặn tượng Bác trong khi Bác đang làm việc. Sau này khi dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô Bác cũng đã dành thời gian để nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm nặn tượng Bác và tới thăm người bạn họa sĩ Picasso.
Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hầu hết các họa sĩ, nhà điêu khắc ở Hà Nội và các thành phố khác đã ra chiến khu, bưng biền, vùng tự do tham gia cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc để bảo vệ độc lập của tổ quốc bằng lao động nghệ thuật của mình. Đội ngũ nghệ sĩ tạo hình đã được tập hợp trong Hội Văn nghệ Việt Nam, tham gia các hoạt động Văn hóa Văn nghệ trong cương vị là anh bộ đội cụ Hồ trong các báo Sự thật; báo Vệ quốc quân và làm công tác thông tin tuyên truyền, địch vận, giảng dạy trường Mỹ thuật kháng chiến, để đào tạo lớp họa sĩ cách mạng mới. Trong điều kiện kháng chiến cực kỳ gian khổ, bám sát đời sống lao động, chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ, các họa sĩ sáng tác tranh cổ động, tranh truyện, truyền đơn, minh họa báo, sáng tác tranh sơn dầu, sơn mài, lụa và ghi chép ký họa để tổ chức nhiều triển lãm ký họa tại các địa phương, xây dựng tác phẩm sơn dầu, sơn mài, lụa, khắc gỗ, in đá…để tham gia Triển lãm Hội họa 1948, Triển lãm Hội họa 1951 và chuẩn bị cho Triển lãm Hội họa 1954. Các họa sĩ đã mở nhiều lớp vẽ để đào tạo một đội ngũ kháng chiến. Một số nghệ sĩ đã tham gia quân đội trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường, tiêu biểu là họa sĩ Nguyễn Cao Thương - người đại đội trưởng bộ binh đã bắn rơi máy bay Pháp đầu tiên trên chiến trường Nam bộ. Các nghệ sĩ được tôi luyện qua cuộc kháng chiến đã trở thành những nghệ sĩ - chiến sĩ của nền Nghệ thuật Tạo hình Cách mạng Việt Nam.
Năm 1954, cùng đội quân chiến thắng trở về Thủ đô, chỉ 2 tháng sau, một triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lớn đã được tổ chức vào tháng 12 năm 1954 tại Hà Nội. Cùng với việc sáng tác là việc xây dựng các trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, Mỹ thuật Công nghiệp…để đào tạo thế hệ trẻ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Những ấn tượng sâu sắc và những ký họa về cuộc kháng chiến chống Pháp đã là những cảm hứng để các nghệ sĩ sáng tác những tác phẩm lớn sau khi hoà bình lập lại, các tác phẩm này đã tham dự triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1954, 1955, 1958, 1960, 1962 và đặc biệt là triển lãm Mỹ thuật các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu những năm năm chín, sáu mươi gây được tiếng vang lớn.
Mỗi chúng ta không thể nào quên hình ảnh Bác đến thăm trường Mỹ thuật Công nghiệp năm 1957, lúc đó còn được gọi là trường Mỹ nghệ, thăm trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, xem các triển lãm: Mỹ thuật toàn quốc ngày 13/8/1958; Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc ngày 26/9/1960 tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội - 42 Yết Kiêu; Triển lãm của anh chị em họa sĩ miền Nam tập kết ra Bắc tại CLB Thống Nhất, Hà Nội ngày 19/2/1962. Không chỉ xem Triển lãm Mỹ thuật ở trong nước, Bác còn quan tâm đến Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài. Năm 1959 trong chuyến đi thăm Liên Xô, Bác Hồ vẫn dành thời gian đến xem các tác phẩm Mỹ thuật Việt Nam trong triển lãm Mỹ thuật 12 nước XHCN lần đầu tiên được tổ chức tại Matxcơva (tháng 12/1958 đến tháng 2/1959), dành thời gian tiếp các họa sĩ, nhà điêu khắc nước ngoài đến làm giảng viên của các trường Mỹ thuật hoặc đến Việt Nam vẽ về cuộc chiến đấu và lao động sản xuất của nhân dân ta.
Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đưa chiến tranh phá hoại miền Bắc và đổ quân Mỹ cùng chư hầu vào chiến trường miền Nam, trong cuộc kháng chiến bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam của nhân dân cả nước với khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - mà lòng phơi phới dậy tương lai”, “không có gì quý hơn Độc lập - Tự do”, các nghệ sĩ Tạo hình đã thực hiện lời dạy Bác Hồ trong thư Bác đã viết từ năm 1951 “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Các họa sĩ ở miền Bắc đều làm việc trong các cơ quan, trường học, đi thực tế các cơ cở sản xuất công, nông nghiệp, miền núi như: mỏ than Quảng Ninh, các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Nhiều họa sĩ đã đi vào tuyến lửa khu IV từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh vẽ nhiều ký họa về con người, về chiến đấu và sản xuất của các chiến sĩ và đồng bào.
Nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc từ miền Bắc đã lên đường đi chiến trường B công tác tại các cơ quan thuộc các cơ quan của Mặt trận Giải phóng khu V, VI, VII, VIII và Tây Nguyên. Nhiều họa sĩ đã tham gia quân đội thuộc các quân binh chủng, Bộ binh, Pháo binh, Thiết giáp, Thông tin, Bộ đội cao xạ, bộ đội Hải quân, bộ đội Hậu cần… trực tiếp tham gia chiến đấu trên các chiến trường B,C, K. Hơn tám mươi họa sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cùng với chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ, các họa sĩ đã vẽ được hàng vạn bức ký họa về chiến trường, một số tranh ký họa đã được gửi ra miền Bắc và tổ chức Triển lãm tranh ký họa miền Nam năm 1966 và năm 1968, Bác Hồ và các đồng chí Lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã tới xem triển lãm. Ký họa miền Nam làm xúc động nhân dân và bạn bè quốc tế. Nhiều ký họa và tranh đã tham gia triển lãm Mỹ thuật về đề tài quân đội, động viên tinh thần lao động, sản xuất và chiến đấu của quân và dân miền Bắc.
Cùng với các Triển lãm ký họa, tranh cổ động, tranh đả kích được tổ chức thường xuyên hàng năm, nhiều triển lãm Mỹ thuật đã được tổ chức. Đáng chú ý như Triển lãm Mỹ thuật Mùa xuân năm 1967, Triển lãm Mỹ thuật Quân đội lần thứ nhất năm 1974, Triển lãm tác phẩm của nữ tác giả, Triển lãm tranh của bộ đội Phòng không - Không quân, bộ đội Công binh… các tác phẩm đều chứa đựng xúc cảm của các nghệ sĩ tạo hình trước cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện cho miền Nam của quân và dân ta, nhiều tác phẩm sáng tác trong thời kỳ này đã trở thành những tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khắc xuất sắc của Nghệ thuật Tạo hình Việt Nam.
Các nghệ sĩ tạo hình ở chiến trường đã sát cánh cùng với quân và dân miền Nam chiến đấu và sáng tác phục vụ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Đặc biệt các ký họa từ chiến trường miền Nam gửi ra miền Bắc, đã được giới thiệu trong nhiều triển lãm ở trong nước và nước ngoài. Đặc biệt Triển lãm tranh ký họa từ miền Nam gửi ra miền Bắc lần thứ nhất ngày 24/10/1966 tại Hội trường Liên hiệp VHNT Việt Nam - 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội; Triển lãm tranh ký họa miền Nam gửi ra Bắc lần thứ hai ngày 25/12/1968; Triển lãm tranh của bộ đội năm 1968 đã được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến xem. Bác Hồ đã chăm chú xem từng bức tranh, thể hiện sự trân trọng của Bác đối với các sáng tác của các họa sĩ và nhà điêu khắc, thể hiện tình cảm đối với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm sống, chiến đấu, lao động, học tập trong gian khổ và ác liệt của công cuộc xây dựng CNXH miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu, anh hùng giải phóng dân tộc - danh nhân văn hoá thế giới là một đề tài lớn được các họa sĩ và nhà điêu khắc trong nước và quốc tế sáng tác. Khó mà có thể nêu hết được tên tác giả, tác phẩm sáng tác về Bác. Hình tượng Bác Hồ mãi mãi là nguồn cảm hứng sáng tác cho các họa sĩ và nhà điêu khắc chúng ta.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, Mỹ thuật Việt Nam cũng như các ngành Văn học - nghệ thuật đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chăm sóc. Đảng đã ra nhiều Nghị quyết về Văn học - Nghệ thuật cho phù hợp với từng thời kỳ Cách mạng. Ta có thể kể tới các Nghị quyết của hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IV (khoá VII) về một số nhiệm vụ Văn hoá, Văn nghệ những năm trước mắt; Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) về công tác Văn học, Nghệ thuật trong tình hình mới; Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển Văn học, Nghệ thuật trong thời kỳ mới.
Nhà nước đã có nhiều chính sách cụ thể cho sự nghiệp phát triển Văn học - Nghệ thuật trong đó có Mỹ thuật. Từ năm 1993, Nhà nước đã cấp kinh phí Giải thưởng hàng năm cho các Hội Văn học - Nghệ thuật ở Trung ương nhằm kịp thời khen thưởng cho những tác phẩm sáng tác xuất sắc trong năm. Từ năm 1995, bắt đầu thực hiện việc xét Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học - nghệ thuật nhằm tôn vinh các nghệ sĩ có những tác phẩm đặc biệt xuất sắc và xuất sắc. Hội Mỹ thuật Việt Nam cho đến nay đã có 18 tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 49 tác giả được tặng Giải thưởng Nhà nước. Từ năm 1999, Nhà nước đã cấp kinh phí hỗ trợ sáng tạo Văn học - nghệ thuật nhằm tạo điều kiện để các Hội tổ chức cho hội viên đi thực tế, dự trại sáng tác, tài trợ sáng tác tác phẩm theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã tác động sâu sắc đến hoạt động Mỹ thuật, tạo nên những bước phát triển mới, đa dạng về phong cách, mở rộng về đề tài, từng bước hội nhập với Mỹ thuật của khu vực và thế giới. Hiện nay, đội ngũ Mỹ thuật Việt Nam đã có 5 thế hệ: thế hệ thứ nhất là thế hệ các nghệ sĩ Mỹ thuật Đông Dương; thế hệ thứ hai là các nghệ sĩ thời kỳ chống Pháp và 10 năm đầu hoà bình lập lại ở miền Bắc; thế hệ thứ ba là các nghệ sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; thế hệ thứ tư là các nghệ sĩ trưởng thành trong thời kỳ đổi mới và thế hệ thứ năm là các nghệ sĩ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế (hậu đổi mới). Hiện nay, các hoạt động Mỹ thuật chủ yếu dựa vào các nghệ sĩ thế hệ thứ ba đến thứ năm, trong nhiều năm gần đây, các Giải thưởng tại các triển lãm lớn ở trong nước và quốc tế đều thuộc vào thế hệ này, đặc biệt là thế hệ đổi mới và thế hệ hậu đổi mới (thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế).
Bên cạnh các tác giả lão thành, trung niên đã có nhiều thành tựu trong sáng tác, một thế hệ mỹ thuật trẻ tài năng, năng động trong cơ chế thị trường đã xuất hiện với tìm tòi mới, làm cho gương mặt Mỹ thuật Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Trong quá trình hoạt động của mình, Hội Mỹ thuật Việt Nam từ 123 hội viên đầu tiên, sau 7 kỳ Đại hội, hiện nay có 1600 hội viên thuộc 62/63 tỉnh thành trong cả nước, sinh hoạt tại 71 Chi hội. Từ chỗ hội viên chủ yếu là ngành Hội họa, nay đã có đủ các chuyên ngành Hội họa, Đồ họa, Điêu khắc, Trang trí và Phê bình Mỹ thuật.
Hàng năm các họa sĩ là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam và hội viên Hội Văn nghệ địa phương đã tổ chức hơn 300 cuộc triển lãm chung, triển lãm nhóm, triển lãm cá nhân và hàng chục cuộc triển lãm mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài. Từ năm 1996, Hội Mỹ thuật Việt Nam tiến hành tổ chức triển lãm Mỹ thuật các khu vực, kết hợp với trao giải thưởng hàng năm đã tạo nên không khí sáng tác rộng trong cả nước, có tác dụng đưa mỹ thuật đến với đông đảo công chúng, và khuyến khích sự sáng tạo của các tác giả. Các triển lãm và giải thưởng mỹ thuật Việt Nam Asean, Mỹ thuật Trẻ Nokia hàng năm đã góp phần nâng cao chất lượng sáng tác và giao lưu với nước ngoài.
Đối tượng phục vụ của giới mỹ thuật ngày càng rộng rãi, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày của nhân dân, không những trong lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình mà còn trong lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng trước đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà phê bình mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam đã nhận được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. 18 họa sĩ và nhà điêu khắc đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 và 2, năm 2001 này, chúng ta vui mừng có thêm 32 họa sĩ và nhà điêu khắc được nhận Giải thưởng Nhà nước. Hội Mỹ thuật Việt Nam đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1960, Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 1987, Huân chương Hồ Chí Minh năm 1997. Đó là những phần thưởng cao quý mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân trao cho giới mỹ thuật, là sự ghi nhận những thành tựu mà giới mỹ thuật Việt Nam đã đạt được, là nguồn cổ vũ lớn lao đối với giới Mỹ thuật Việt Nam.
Những nỗ lực và thành tựu to lớn của các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà phê bình mỹ thuật trong suốt 60 năm qua đã tạo nên truyền thống vẻ vang của giới mỹ thuật Việt Nam. Chúng ta được Đảng và Nhà nước cho phép lấy ngày 10/12 hàng năm làm ngày truyền thống của giới mỹ thuật Việt Nam, đó là một vinh dự lớn. Hội Mỹ thuật Việt Nam cũng đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất (1960), Huân chương Độc lập Hạng Nhất (1987), Huân chương Hồ Chí Minh (1997) và Huân chương Sao vàng (2007).
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ gửi thư cho các họa sĩ và ngày truyền thống của giới Mỹ thuật Việt Nam, chúng ta càng thấm thía, quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ, thực hiện tốt Nghị quyết V khoá 8, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị và đặc biệt là Nghị quyết của Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với cuộc vận động sáng tác và quảng bá những tác phẩm Văn học - Nghệ thuật “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các Nghệ sĩ Tạo hình Việt Nam tiếp tục thực hiện lời Bác Hồ dạy là những chiến sĩ trên mặt trận Văn học - Nghệ thuật, tiếp tục phát huy tài năng sáng tạo của mình trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, thật sự hoà mình vào cuộc sống lao động sản xuất, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Cuộc sống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là nguồn cảm hứng vô tận của sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta phấn đấu có nhiều tác phẩm xuất sắc, xứng đáng với tầm vóc của cách mạng, với dân tộc Việt Nam, đáp ứng lòng mong muốn của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Bác Hồ kính yêu.
TRẦN KHÁNH CHƯƠNG
11.2011
|