Hình tượng rồng trong mỹ thuật cổ Việt Nam

Hình tượng con Rồng sáng tạo không chỉ mang tính ứng dụng trang trí trong Hoàng cung, các ngôi Chùa, cung Điện mà còn có giá trị cái đẹp tạo hình. Hình tượng Rồng phát triển ở các vương triều, mỗi thời đều có đặc điểm phong cách đặc trưng. Cơ sở nhận diện hình tượng trên các phần thể hiện: Đầu Rồng (mắt, mũi, mồm, râu, bờm, sừng); hình dáng thân Rồng (các khúc uốn lượn); các chi tiết (vây, móng, đuôi) và đối chiếu với niên đại di tích để xác định Rồng các thời:

Hình tượng con rồng trong mỹ thuật cổ Việt Nam
Hình tượng con rồng trong mỹ thuật cổ Việt Nam

Rồng thời Lý (thế kỷ XI-XII)

Thăng Long nơi rồng vàng xuất hiện, cũng là nơi vương triều Lý (1010-1125) xây dựng nhiều công trình kiến trúc hoàng thành, chùa, tháp mở đầu cho độc lập tự chủ của Đại Việt. Duy trì gìn giữ những biểu tượng Rồng truyền thống vốn có lâu đời của dân tộc, các nghệ nhân thời Lý đã sáng tạo hình tượng Rồng, đưa lại ý nghĩa mới. Hình tượng Rồng chỉ thực sự phát triển từ triều Lý, trở thành biểu tượng cao quý, quyền uy của Vương quyền và linh thiêng của Thần quyền (đạo Phật là Quốc giáo). Nó thể hiện trong các hợp thể nghệ thuật đường nét uyển chuyển, tinh tế, bố cục hoàn chỉnh, phong cách độc đáo.

Hình tượng con rồng trong mỹ thuật thời lý
Hình tượng con rồng trong mỹ thuật thời lý

Hình tượng Rồng có kiểu dáng nhất quán, được nghệ nhân tuân thủ triệt để. Bất kỳ hình rồng ở di tích nào dù ở cách xa nhau, dù làm vào những năm khác nhau, dù là kiến trúc vương quyền hay kiến trúc thần quyền, thì hình tượng con Rồng Lý đều có kiểu dáng và cấu trúc chung. Đặc điểm hình tượng: Đầu Rồng với cổ ngước cao. Mắt Rồng to tròn và hơi lồi. Trên lông mày kết xoắn hình số 3 ngửa (theo nhãn vòng Kim cô nhà Phật), và trán kết xoắn hình chữ S ký hiệu hình chớp (ý niệm về hiện tượng tự nhiên sấm – chớp), uy lực của Phật Pháp Lôi, Pháp Điện.

Hai bên dưới mang tai có dải bờm nhiều tua kết vào nhau uốn lượn vút ra sau. Chòm râu dưới cằm kết xoắn uốn lượn. Mũi Rồng cũng được kéo dài thành hình vòi. Mào của Rồng hơi uốn khúc, chung quanh có viền kiểu ngọn lửa. Quanh đầu mây quấn có những viên ngọc lơ lửng. Miệng rồng há rộng hứng ngọc. Môi dưới ngắn, lưỡi dài uốn lượn vươn ra đỡ lấy viên ngọc. Hai hàm có răng nanh nhọn kéo dài uốn cong liền sát mũi. Cũng còn có loại đầu Rồng: cổ uốn khúc xuống rồi ngược lên. Hình dáng thân Rồng thể hiện theo lối nhìn nghiêng, uốn lượn mềm mại (như hình giun đất uốn lượn). Các khúc uốn lượn phình to và co lại gần nhau (như hình túi phình đáy, miệng co) đặt xuôi, đặt ngược đều đặn, liên tục thu dần về đuôi. Mình Rồng tròn để trơn (chỉ có vẩy trên thân rồng to, chạm nông nên trông vẫn trơn mượt). Toàn bộ thân hình Rồng nở về phần đầu, thu nhọn về phía đuôi, quy gọn vào một nửa hình lá Đề. Rồng Lý 4 chân có khuỷu và mỗi chân đều 3 móng.

Các di vật nghệ thuật thời Lý còn lại đến ngày nay không nhiều, những hình tượng Rồng còn lại ở các Chùa (như các chùa: Dạm, Phật Tích, Long Đội, Chương Sơn, Quỳnh Lâm, Báo Ân, Linh Xứng, Sùng Nghiêm, Diên Thánh … và mới tìm thấy thêm ở Hoàng thành Thăng Long (2000-2005) hình Rồng trên gốm thời đầu lập đô nhà Lý. Những hình tượng Rồng không chỉ là mô típ trang trí chau chuốt, tinh tế, thanh mảnh mà còn là hình tượng sinh động. Nội dung tư tưởng thẩm mỹ, bộc lộ ý nghĩa tín ngưỡng dân gian cổ của cư dân nông nghiệp, tâm hồn khoáng đạt thanh cao, hàm chứa trí tuệ uyên bác.

Rồng thời Trần (TK XIII- XIV)

Trong chạm khắc, còn có tượng Rồng ở thành bậc thành quách, lăng mộ và chùa. Hình tượng Rồng có nhiều thay đổi so với thời Lý. Thân Rồng to mập, khoẻ chắc, khúc nới ra uốn lượn đều đặn hình sin thu dần về đuôi. Đầu xuất hiện cặp sừng, đôi tai và những chi tiết mới. Hình dáng Rồng uy nghi mang ý nghĩa mới của vương triều. Nổi rõ phong cách với những hình khối, đường nét mập khỏe, tinh lọc giản dị, vững chãi mà không nặng nề, không tĩnh của cốt cách truyền thống. Tượng Rồng ở khu lăng mộ An Sinh (Thế kỷ XIV Đông Triều Quảng Ninh). Điển hình là đôi tượng (thành bậc cửa lăng vua Trần Anh Tông, dài 1.70m) mình tròn mập, đuôi dài và nhọn. Bốn chân to khỏe, có bốn móng nhọn. Đầu dữ tợn, mào kéo dài ra phía trước, cặp sừng nhọn vút về phía sau. Bờm tóc to trải dài, những chòm lông quanh cổ hình xoắn ốc dựng lên. Trên thân có chạm vẩy. Đôi tượng Rồng (ở thành nhà Hồ, dài 3.60m) đầu bị gãy mất, còn lại từ má bờm uốn sóng đều đặn trải dài nhọn. Thân Rồng dài và mập, có vẩy hình vòng cung, uốn khúc cong sáu nhịp đều đặn thon đến cuối đuôi.

Có thể bạn quan tâm: http://www.vietnamfineart.com.vn/con-chuot-tren-bia-da-den-vua-dinh.html

Hình dáng Rồng thời Trần đa dạng, nên trong cùng một thời gian, những chi tiết hình Rồng đã có những khác nhau. Chẳng hạn: Có dạng đuôi thẳng vút nhọn, lại có đuôi xoắn tròn, hay có đuôi chạm văn xoắn ốc. Có Rồng chạm 3 móng, lại có Rồng 4 móng. Hình Rồng với bốn khúc uốn, trên bệ tượng chùa Thanh Sam (ứng Hòa – Hà Tây nay là Hà Nội) chạm đầu quay lại nằm gọn trong khúc uốn lớn. Râu uốn lượn dài, hai chân trước to, giơ ba móng. Cũng Rồng với bốn khúc uốn thì chạm đá bệ tượng chùa Đô Quan (Yên Khang, ý Yên, Nam Định), khúc lớn vòng qua đầu, ba khúc uốn còn lại gần như thẳng. Râu uốn lượn dài, hai chân trước to bốn móng. Lại có hình Rồng với bảy khúc uốn chạm đá bệ tượng chùa Thầy (Sài Sơn, Quốc oai, Hà Tây) dáng Rồng trườn lên phía trước. Đầu ngước ngậm ngọc, hai mào dài xoắn lại, bờm tỏa dài uốn lượn ra phía sau, vây rồng nhọn cao. Bốn chân to với bốn móng nhọn, Còn có các đầu Rồng (đất nung) thấy ở Tháp Phổ Minh (Nam Định), hay ở Đông Triều – Quảng Ninh, ở Hoàng thành Thăng Long. Hoặc có hình Rồng trang trí trên gạch gốm tráng men chùa Hoa Yên (Yên Tử – Quảng Ninh),

Rồng thời Lê sơ (TK XV)

Phát triển trên cơ sở tiếp thu Rồng thời Trần, cơ bản vẫn giữ hình dáng thân uốn cứng cáp, to khoẻ, mào và sừng ở đầu trông dữ hơn. Nổi bật hình tượng đôi Rồng trên các thành bậc đá (làm thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497), như: điện Lam Kinh (1433) và Điện Kính Thiên (1467). Đôi Rồng uốn khúc bò từ trên nền thềm điện xuống (đặt lối lên chính giữa). Đầu Rồng to, có hai nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm mượt cuộn ra sau. Lưng Rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn. Một tay Rồng cầm lấy râu. Chân Rồng chạm 5 móng sắc nhọn, các hình xoắn trang trí bên thân Rồng, kết hợp với mây đao lửa. Đó là mô típ trang trí điển hình mang đặc trưng thời Lê Sơ. Hình tượng Rồng trang nghiêm, râu bờm và sừng nổi cao dũng mãnh uy quyền. Những chạm khắc trìu tượng hình rồng uốn khúc ở mặt ngoài thành bậc đá của điện Lam Kinh (Thanh Hóa), Điện Kính Thiên, Đàn Nam Giao (Hà Nội) trong khung tam giác vuông viền hình hoa chanh, đều chạm hoa văn hoa sen, hoa cúc và lá cách điệu, mây xoắn cuộn, nổi ở giữa là hình đao ngọn lửa (gọi là mây đao lửa). Còn thấy hình Rồng 4 móng kết với hình mây hoa lá trên các văn bia (Văn Miếu). Những chạm khắc hình Rồng và các mô típ Mây đao lửa, hoa văn với nét chạm sắc sảo, điêu luyện, bố cục chặt chẽ với đặc trưng riêng, tiêu biểu phong cách thời Lê Sơ.

Rồng thời Mạc (TK XVI)

Hình tượng Rồng thời Mạc kế thừa rồng truyền thống Lý, Trần, và cả rồng thời Lê sơ. Đặc điểm chung là: thân mập, uốn lượn đều đặn, bờm kéo dài uốn theo xuống nửa lưng, mây đao lửa điểm xuyết trên thân, sóng cuộn dưới bụng, chân ngắn, lông khủyu sợi đơn uốn xoắn. Đầu rồng có sừng hai chạc, hai mắt lồi, mũi sư tử, mồm thú nhô ra phía trước. Các chân Rồng thường chạm 4 móng. Hình tượng rồng phát triển trên các chạm khắc Chùa và Đình làng. Còn hình: Rồng, phượng, lân trang trí trên gạch chùa Ông, chùa Trăm gian, và chùa Bối Khê.. Hoặc Gốm đất nung: Rồng, Phượng, con Xô, con Kìm là gắn trên bờ nóc, bờ giải, các đầu đao, tầu mái: cung điện, đình, chùa. Hiện còn thấy hai đầu rồng: có sừng hai chạc, mắt lồi, tai to, mồm sư tử cao 0.85cm trên hai bờ mái ở chùa Mui (Hà Tây cũ). Hình Rồng mây trang trí trên gốm dáng uốn lượn, thân hình khỏe chắc. Đình là công trình to lớn, đòi hỏi nhu cầu thẩm mỹ với giá trị nghệ thuật. Những thành phần kiến trúc gỗ vốn nặng nề, thô mộc của kết cấu Kiến trúc gỗ. Ta thấy chạm đề tài Tứ linh, như các đầu dư chạm “Đầu Rồng ngậm ngọc”, đầu bẩy, các kẻ hiên chạm các đề tài như: Rồng cuốn thủy, Cá hóa Rồng. Các cốn, các vì nóc chạm Rồng, Lân. Bức chạm gỗ “Rồng Nho học” ở đình Vân Sa (Ba vì, Sơn Tây) độc đáo, thể hiện Rồng bố đang cầm bút nho chỉ bảo, các Rồng con giơ sách dâng lên, nhằm ca ngợi việc học hành. Thể hiện rõ bàn tay (người) cầm bút, tay dâng sách rất rõ. Hình tượng Rồng được nhân hóa, đó là nét mới rồng gắn với đời thường. Những chạm khắc ở đình Thổ Hà (Bắc Giang), đình Tây Đằng (Ba Vì, Sơn Tây), đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang) thể hiện Rồng và các vật linh. Tượng Rồng thành bậc (đá) chùa Nhân Trai (Hải Phòng) uốn lượn đều đặn, sừng quặp ra sau, bờm kéo dài uốn xuống lưng. Bia chùa Trà Phương chạm khái quát Rồng Phượng. Các hình Long – Lân chùa Trăm gian, chùa Đậu, chùa Bối Khê thể hiện những bố cục sinh động, khối hình khỏe khoắn, đậm tính cách dân gian. Bia đá thời Mạc phát triển, Rồng trang trí trên trán bia, diềm bia, các góc của bia.

Rồng thời Lê trung hưng (TK XVII)

Thời này phục hưng những giá trị nghệ thuật truyền thống nhà Lê. Hình rồng là mô típ tiêu biểu, đặc trưng, thoát khỏi hình thức khuôn mẫu, để trở về nguồn, với ý nghĩa giá trị sáng tạo mới. Hình Rồng với đầu nhô, có sừng, hai râu mép dài uốn lượn duỗi ra phía trước, tạo dáng rồng thêm sinh động. Rồng kết hợp hoa văn mây lửa vẽ men xanh lưu loát. Kỹ thuật vẽ men màu và kỹ thuật đắp nổi trên gốm điêu luyện. Đặc điểm hình Rồng cũng có thay đổi. Đầu Rồng đơn giản, thường chỉ thấy râu cằm thưa nhọn, bờm ngắn tỏa hình quạt. Mào Rồng thanh mảnh uốn lượn kéo dài ra phía trước, hoặc rủ xuống hai bên. Các hình mây đao lửa thường vút lên từ đầu các chân Rồng. Hình Rồng với mây đao lửa vẫn duy trì nhưng ở cuối thế kỷ XVII các mây đao lửa có chiều hướng ngắn lại, và thưa. Độ uốn lượn của đao mây ít lại, thường chỉ còn hai khúc uốn rồi bắt sang chiều ngang của đao mây.

Rồng thời Lê Mạt (TK XVIII)

Hình Rồng thân ngắn và các khúc uốn thường chỉ 3 đến 4 lần cong uốn, chỉ làm to khúc uốn liền đầu, các khúc sau thường ngắn và thuôn gần thẳng về đuôi. Chân Rồng 4 móng. Hình mây đao lửa gần như mất. Mây chuyển sang các hình dải thưa vắt vào chân Rồng, điển hình như: “Hai Rồng chầu mặt trời” chạm đá bia chùa Chuông 1711 (Kim Thi – Hưng Yên), và chạm đá bia đền Din (Nam Dương – Nam Ninh – Nam Định). Hoặc hình Rồng biến thành hình mây, như: “Hai Rồng mây hóa chầu mặt trời” chạm đá bia chùa Côn Sơn 1788 (Chí Linh – Hải Dương).

Rồng thời Nguyễn (TK XIX – đầu TK XX)

Rồng Nguyễn ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa truyền thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế. Đặc điểm chỏm đầu thường bẹt, nổi vừa phải. Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé mở lộ răng nanh nhọn. Sừng hai chạc cong ra phía sau. Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng. Thân Rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình tam giác nhô cao nhọn. Đuôi Rồng lượn sóng. Chân Rồng có hai cặp trước và sau, các móng thường chõe ra. Những Rồng trong cung vua thường chạm 5 móng. Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp. Rồng trang trí quanh cột gỗ sơn son, hoặc trang trí quanh cột đồng (như ở Ngọ Môn, Lăng Minh Mạng, Tự Đức, Thiệu Trị, Đồng Khánh). Đến TK XX cuối thời Nguyễn, con Rồng sử dụng nhiều đường cong uốn vừa phải, thể hiện đao và tóc Rồng thô cứng. Đầu lớn có vẻ hung dữ, mắt to tròn, mũi nở, miệng mở rộng, răng cửa nhọn, thân dài và mảnh yếu, đuôi Rồng lượn sóng hoặc tõe các tua đuôi. Hình Rồng Nguyễn còn lại tương đối nhiều ở các di tích chùa, đình từ Huế ra vùng đồng bằng phía Bắc.

Nhìn lại lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam bằng cách sắp xếp hiện vật nghệ thuật Điêu khắc và Trang trí từ niên đại đầu thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 20, tìm ra những đặc trưng tiêu biểu để xác định phong cách. Trong đó hình tượng Rồng được sáng tạo, thể hiện phong phú, chiếm vị trí quan trọng trong các hợp thể kiến trúc (hoàng cung hay chùa, miếu, đền, đình). Các vương triều đều lấy hình tượng Rồng là biểu tượng quyền uy của vương triều. Từ thời Lý, thời Trần, thời Lê sơ phong cách Rồng nhất quán hoặc tập trung rõ đặc trưng (ở đầu và khúc uốn). Từ thời Mạc đến thời Nguyễn hình Rồng có nhiều biến đổi và đa dạng. Nét tiêu biểu tập trung ở các di tích trung tâm.

Những văn bia phát triển, ta biết được xuất xứ nội dung, niên đại là những giá trị để ta xác định thời đại các chạm khắc hình Rồng. Các hình tượng Rồng thời sau một mặt kế thừa thời trước, mặt khác muốn tìm ra những cái riêng về phong cách của vương triều mình. Những nét đặc trưng tiêu biểu của hình tượng Rồng ở các thời được nhận diện với sự so sánh, đối chiếu để xác định phong cách nghệ thuật. Hình Rồng mỗi vương triều đều có đặc điểm và phong cách trong sự phát triển của nghệ thuật tạo hình truyền thống. Nó không chỉ ở sử dụng mà còn là dấu ấn quan niệm thẩm mỹ, sắc thái dân gian mang đặc thù dân tộc.

NGUYỄN VĂN CHIẾN

Con chuột trên bia đá đền vua Đinh

Bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tằng tu điện miếu bia ký là chiếc bia đá có kích thước lớn nhất đền vua Đinh. Trong nhà bia đền vua Đinh hiện còn ba chiếc bia khắc vào ba thời điểm Hoằng Định thứ 9 (năm 1608), Chính Hòa thứ 17 (1696) và cuối cùng là bia Thiệu Trị thứ 3 (1843).

Bia không có rùa đội bia như chiếc bia khắc năm Hoằng Định thứ 9, và cũng không có hình lưỡng long chầu nhật trên trán bia. Trên đế chiếc bia hình hai con chuột khắc nổi đang quay đầu vào con cua nằm chính giữa. Không phải là lưỡng chuột chầu cua mà lộ rõ dáng vẻ rình rập của hai con chuột đồng béo núc đang chuẩn bị lao vào xơi tái chú cua. Phía khuất sau mặt trái của tấm bia, cũng dưới phần chân đế có hình một con rồng đang nằm dài thượt, ẩn mình trong bóng tối buồn bã (minh họa). Những con chuột con cua đá đen bóng, két bùn đất thực đến nỗi có thể lầm tưởng như mới vừa lội từ bùn lên. Cũng tưởng như tấm bia vừa khắc chữ xong đem đặt ngoài ruộng, thoắt một cái đám cua, chuột, tôm cá đã chui vào hóa đá để sống một kiếp sống thường hằng của nghệ thuật.

Con chuột trên bia đá đền vua Đinh
Con chuột trên bia đá đền vua Đinh

Nhìn cao hơn một chút, ở hai bên diềm bia phía dưới là gia đình nhà khỉ đang âu yếm nhau. Tôi dám chắc đó là hình ảnh về một gia đình nhà khỉ thuộc loại đẹp nhất trong nghệ thuật chạm khắc của người Việt. Trán bia là đôi phượng đục thô tới mức nếu không nhìn kỹ vào phần đuôi ta lầm tưởng là một con ngỗng! Đúng là rồng chẳng đáng mặt rồng, phượng không ra dáng phượng. Nhưng đó là sự cố ý, vì tới cuối thế kỷ 17, những đồ án rồng phượng đã chín nẫu rồi, và hơn nữa, ở quần thể khu di tích đền vua Đinh vua Lê có 3 tấm bia đá làm thời Hoằng Định có những hình rồng khá uy phong và được khắc chạm rất chuẩn mực. Rồi đến những cặp rồng đá chầu hai bên sập đá cũng rất uy nghi. Vậy đồ án cua chuột ở đây có ẩn ý gì? Những bối cảnh lịch sử nào đã thôi thúc người xưa tạc lên đây những câu chuyện hóm hỉnh đến vậy ?

Chiếc bia khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) là do một tiến sỹ họ Nguyễn, từng giữ chức Hàn lâm đã về hưu soạn. Người viết chữ Hán là Truy lưu Trần Đạo, Từ tế chân nhân trụ trì chùa Kim Cương (Kim Cuơng là ngôi chùa cổ đá mất chỉ còn dấu tích trên núi Thiên Long, Hoa Lư, Ninh Bình). Một ông quan đã về hưu, một vị nhân sĩ đã xuất gia soạn và viết ra cho phỏng đoán việc trùng tu thời Chính Hòa này là tâm nguyện của dân xã Trường Yên hơn là do sự thôi thúc của vương triều. Mặt sau của tấm bia Chính Hòa cũng ghi danh tính của người thợ đá tài hoa, tên là Lê Nhân Phú quê ở xã An Hoạch, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Đúng là tam tuyệt chi tài. Lời văn hay có người viết chữ đẹp lại được bàn tay người thợ khắc tài hoa. Trong quần thể di tích đền vua Đinh vua Lê thì đây là chiếc bia đầu tiên ghi đầy đủ danh tính cả người soạn bia, viết chữ và khắc bia. Chiếc bia Trùng tu tạo tác thánh tượng Lê Đại Hành hoàng đế bi ký tịnh minh có ghi tượng làm tại Thạch Thành, Thanh Hóa nhưng không ghi rõ tên tuổi người làm. Thời thế đã có những đổi thay. Chính giữa diềm bia phía dưới có khắc hình cá hóa rồng. Đồ án cá hóa rồng dù ở Trung Quốc hay Việt Nam cũng mang âm hưởng dân gian. Một ước mơ ngày kia được thành thiên tử của những người dân quê đã âm thầm len lỏi vào rất nhiều các đồ án chạm khắc từ đình làng cho đến đền miếu. Ước mơ này có gì là quá xa vời, khi mà dòng dõi chúa Trịnh cũng chỉ là anh trai cày thủa hàn vi còn phải đi ăn trộm gà hàng xóm. Con chuột dẫu tả rất hiện thực nhưng trong ngữ cảnh của tổng thể đồ án đã dẫn dắt chúng ta tới những liên tưởng về cuộc tranh chấp quyền lực khốc liệt suốt thế kỷ 17 của hai dòng họ Trịnh – Nguyễn dẫn đến 7 cuộc nội chiến. Tuy mang danh một lòng thờ phụng vua Lê, nhưng các ông vua bị vô hiệu hóa trở thành một thứ bù nhìn. Bia được khắc vào thời Chính Hòa (1681-1705) mà theo sử viết là thời đại yên bình thịnh trị nhất của thời đại Lê Trung. Hưng chính vì hai thế lực Trịnh Nguyễn sau bẩy lần chinh chiến bất phân thắng bại (từ sau năm 1672) đã tạm hòa hoãn lấy sông Gianh làm giới tuyến. Còn dư đảng cuối cùng của nhà Mạc tới năm 1688 cũng đã bị dẹp bỏ.

Sự hiện diện của con chuột trên bia đá ở đền vua Đinh là chuyện hi hữu trong lịch sử nghệ thuật tạc bia người Việt. Nhưng đặt trong dòng chảy của nghệ thuật, giai đoạn thời Chính Hòa, chúng ta thấy nó giống như những dòng nước khi chạm vào những mạch đá ngầm bất chợt tung bọt lên trắng xóa. Một cảnh tượng phá bỏ sự âm thầm tẻ nhạt của dòng chảy lịch sử nghệ thuật. Cách đền vua Đinh không xa, trên lối vào khu di tích ở ngã ba Thiên Tôn, tôi và họa sỹ Đức Hòa đã phát hiện ra một chiếc bia đá vào niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700) có khắc hình một cô gái khỏa thân đứng dưới cành hoa. Lịch sử nghệ thuật Việt Nam có những ví dụ mẫu mực về sức sống của những cảm hứng dân gian, được ươm trồng từ mảnh đất văn hóa làng xã. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung từng đánh giá cao sự bừng tỉnh của nghệ thuật dân gian thời chúa Trịnh Căn (cũng là thời vua Lê Hy Tông) như là sự tiếp nối cuối cùng của nghệ thuật nhà Mạc.

www.vietnamfineart.com.vn

Danh họa, cố họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910-1994)

Năm 1931, sau 3 tháng học dự bị do hoạ sĩ Nam Sơn hướng dẫn, Trần Văn Cẩn thi đỗ vào khoá VI (1931-1936) Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương  cùng với Nguyễn Gia Trí, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Văn Tại, Nguyễn Thuỵ Nhân, Vũ Đức Nhuận… Năm 1933 ông cùng các hoạ sĩ  thể nghiệm thành công tranh sơn mài với sơn son, vỏ trứng.

Vừa học tập, vừa sáng tác: năm 1934 tác phẩm đầu tay mang tên Mẹ Tôi đã được tham dự phòng triển lãm ở Paris. Cùng với Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Quang Trân, Trần Văn Cẩn là một trong những sinh viên đầu tiên nghiên cứu sơn ta, ông đã cùng bác Phó Thành tìm cách pha chế để có thể vẽ được nhiều lớp sơn chồng lên nhau và mài.

Họa sĩ Trần Văn Cẩn
Họa sĩ Trần Văn Cẩn

Năm 1935, tại triển lãm lần thứ nhất Hội Khuyến Khích Kỹ thuật và công nghệ  ( viết tắt là SADEAL) Trần Văn Cẩn đã có bốn tác phẩm Em gái tôi  – sơn dầu, Cha con- lụa, Đi làm đồng và Cảnh bờ sông –  khắc gỗ màu, trong đó hai bức Cha con và Đi làm đồng được sáng tác trên cơ sở ký hoạ ở Yên Viên,  phía Bắc Hà Nội. Tại cuộc triển lãm này ông được tặng giải ngoại hạng và được cử vào Ban giám khảo. Năm 1936, ông lại gửi tới triển lãm SADEAL lần hai với ba bức tranh lụa: Cô đơn, Chân dung cô gái nhỏ và Chăn ngựa. Năm 1937 ông dự hội chợ triển lãm quốc tế Paris với bốn tác phẩm lụa: Chân dung cô gái trên nền hoa đào, Chợ hoa, Thê và Mang cỏ cho ngựa ăn. Có thể thấy suốt giai đoạn học, Trần Văn Cẩn đi khá sâu vào chất liệu lụa vậy mà bài thi tốt nghiệp của ông lại là bức bình phong trang trí khổ 180 x 60 cm ghép từ 6 tấm vóc với đề tài sinh hoạt của giới trí thức xưa có tên Lều chõng. Bài tốt nghiệp này của ông được đánh giá cao.

Khi ra trường, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn từ chối sự bổ nhiệm của chính quyền thuộc địa. Hè năm đó ông đi xe đạp vào Huế cùng hai bạn học để vẽ phong cảnh, nhưng bị chính quyền nghi ngờ và gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng ông quyết tâm tập trung vào chuyên môn, liên tục sáng tác nhiều tác phẩm bằng các chất liệu sơn mài, lụa, sơn dầu, khắc gỗ. Có thể coi thời kỳ này là thời kỳ hoạ sĩ Trần Văn Cẩn thử sức mình trên nhiều chất liệu khác nhau và ở chất liệu nào ông cũng đạt được thành công. Đó là các tác phẩm: Đi lễ chùa – lụa; Trong vườn – năm 1938, sơn mài (120 x 80 cm)  khi dự triển lãm SADEAL lần thứ III tại Hải Phòng, ông nhận được Giải Ngoại Hạng, tác phẩm này gửi đi dự triển lãm ở Batavia. Tác phẩm Bên sông Hồng  – lụa, Phong cảnh Huế – sơn dầu năm 1939 dự triển lãm SADEAL lần thứ IV.  Tác phẩm Gánh lúa – Lụa,  Ngư dân  – sơn dầu  gửi sang Tokyo năm 1940. Năm 1943 ông gia nhập nhóm “Trung tâm nghệ thuật Việt Nam” gọi tắt là FARTA, đồng thời gửi hai tác phẩm: Em Thuý – sơn dầu  và  Gội đầu – khắc gỗ. Mà sau đó ông được tặng giải nhất. Năm sau, ở triển lãm FARTA lần 2, ông gửi hai tác phẩm: Bên ao sen – sơn dầu, Hai thiếu nữ trước bình phong – lụa, 1944. Cũng năm này, tác phẩm  Nắng trong vườn – sơn dầu của Trần Văn Cẩn gửi tham dự triển lãm “Duy nhất”. Tác phẩm sơn dầu Em Thuý và tác phẩm Gội đầu tranh khắc gỗ của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn hiện được lưu giữ tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

Thời tiền khởi nghĩa, cảm tình với các bạn ở Văn hoá cứu quốc, ông vẽ tranh cổ động Cứu nông dân, Trừ giặc đói, Phá xiềng, Bản đồ Việt Nam không thể chia cắt. Các tác phẩm của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác đã tham dự nhiều triển lãm trong nước và quốc tế. Điều này, thể hiện sức sáng tạo của ông hết sức dồi dào. Chính ông cùng các hoạ sĩ tốt nghiệp trường cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thời đó như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị… đã tạo nên những tác phẩm hội hoạ hiện đại giai đoạn đầu ở Việt nam.

Tác phẩm Em Thúy - Trần Văn Cẩn
Tác phẩm Em Thúy – Trần Văn Cẩn

Năm 1945 Cách mạng Tháng Tám thành công. Trong những ngày sôi sục khí thế cách mạng và chống lại âm mưu xâm lược của giặc Pháp, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng với nhiều danh hoạ khác đã hăng hái vẽ tranh cổ động cỡ lớn trưng bầy ở vườn hoa Chí Linh, Bờ Hồ, ngã tư Tràng Tiền, trước cửa Nhà Hát Lớn. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã vẽ áp phích Nước Việt Nam của Người Việt Nam (4x6m), trong tranh ba nhân  vật thanh niên nam, nữ, thiếu niên với vũ khí trong tay sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. áp phích trên được dựng ở nhà Địa ốc Ngân Hàng. Thời gian này, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng anh em trong Hội Văn Hoá Cứu Quốc đã tổ chức triển lãm văn hoá tại Nhà Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, Hà Nội. ở đây, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã vẽ mẫu cửa – một mẫu cửa khá độc đáo và chỉ đạo trưng bày triển lãm Văn hoá. Lần ấy, anh em nghệ sĩ đã vinh dự được Bác Hồ đã đến thăm và nói chuyện. Tại triển lãm này, Trần Văn Cẩn đã tham dự bức tranh lụa Cấy lúa (Xuống đồng) được sáng tác sau mấy tháng sống giữa khung cảnh đồng ruộng ở một tỉnh trung du; tác phẩm này được tặng giải thưởng Chính Phủ (trị giá hồi đó là1000đ).

Cuối năm 1946, Trường Mỹ Thuật Việt Nam được thành lập, thay thế trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại phố Lò Đúc, Hà Nội do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân  phụ trách. Hoạ sĩ Trần văn Cẩn đã được ông Vân mời tổ chức trường và tham gia giảng dạy. Đây là sự kiện quan trọng để Trần Văn Cẩn bước vào sự nghiệp đào tạo của mình. Trường Mỹ thuật mở chưa được bao lâu thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông cùng nhiều văn nghệ sĩ Thủ Đô vào vùng kháng chiến. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đi Bắc Ninh làm việc cho Phòng Thông Tin tuyên truyền huyện Từ Sơn, tiếp đó phụ trách hoá trang và dựng sân khấu trong Đoàn kịch thiếu nhi lưu động Diên Hồng. Thời gian này Trần Văn Cẩn vẽ nhiều áp phích Đoàn kết; Kháng chiến, hướng dẫn phóng tranh vẽ lên tường để động viên nhân dân tham gia kháng chiến. Năm 1948 ông được mời lên làm việc ở Sở Thông Tin tuyên truyền khu 12 ở gần Nhã Nam – Bắc Giang. Trần Văn Cẩn làm công tác tuyên truyền khu – tham gia chiến dịch Trung Du, hướng dẫn chiến sĩ vẽ dựa trên cơ sở nghệ thuật tranh tết dân gian Đông Hồ, làm tranh khắc gỗ in giấy điệp cổ động cho chiến đấu, sản xuất – học bình dân vv…

Đại hội Văn nghệ Toàn quốc 1948 tại Việt Bắc, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn là một trong 11 đại biểu mỹ thuật tham dự Đại hội. Tại đại hội này ông đã được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn Nghệ Việt Nam cùng với các hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Huỳnh Văn Gấm đại diện cho giới mỹ thuật. Để chào mừng đại hội này, Phòng triển lãm hội họa kháng chiến 1948 đã được tổ chức  bầy 53 tác phẩm, Trần Văn Cẩn đã gửi tới triển lãm nhiều trực hoạ và tranh khắc gỗ in điệp. Năm 1949 ông làm trang trí trọng khu giao tế (Bộ tổng tư lệnh), vẽ tranh hoành tráng Dân quân (kiểu tranh tường).

Năm 1950 Trường Mỹ Thuật Kháng Chiến được thành lập do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, Trần Văn Cẩn được mời cùng giảng dạy với các hoạ sĩ Nguyễn Khang, Nguyễn Tư Nghiêm… Cuối năm 1951, ông được mời về Chiêm Hoá làm trưởng ban tổ chức và tham gia Hội đồng nghệ thuật của Triển lãm hội hoạ 1951 tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang). Trong cuộc triển lãm này ông bày các tác phẩm ở Hang- lụa, Gánh thóc thuế và Nhớ ơn người chiến sĩ vô danh – tranh cổ động và đã được giải thưởng.

Năm 1953, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn cùng một số văn nghệ sĩ khác tham gia  vận động sản xuất, công tác giảm tô và cải cách ruộng đất. Thời gian này ông có nhiều ký hoạ về nông dân và nông thôn, bức tranh tranh lụa  Nông dân vạch tội ác địa chủ được ông sáng tác vào thời gian này.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ông cùng  đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô. Hai tháng sau một triển lãm Mỹ thuật lớn chào mừng giải phóng Thủ đô đã được tổ chức tại Nhà Hát lớn và Nhà thông tin Tràng Tiền Hà Nội. Ban tổ chức gồm Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Huỳnh Văn Gấm, Mai Văn Hiến, Nguyễn Sĩ Ngọc, Lương Xuân Nhị, Huỳnh Văn Thuận, Nguyễn Văn Tỵ. Triển lãm khai mạc ngày 14/11/1954 với 496 tác phẩm của 152 hoạ sĩ gửi đến dự triển lãm. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn dự triển lãm với tác phẩm tranh lụa Con  đọc bầm nghe và 06 ký hoạ Làm cầu; Phố Bắc Giang; Bến Sông Thương; Bộ đội trong động Tam Thanh; Động Bình Gia.

Năm 1955 ông tiếp quản trụ sở trường Mỹ thuật ở 42 Yết Kiêu Hà Nội hoạ sĩ Trần Văn Cẩn được giao làm Hiệu trưởng. Cùng thời gian này ông làm Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1955. Tại triển lãm này ông gửi hai tác phẩm: Lò đúc lưỡi cầy trong kháng chiến- lụa  và Công nhân hầm lò- sơn dầu.

Sau gần hai năm chuẩn bị –  Đại hội thành lập Hội đã được tổ chức trọng thể tại Câu lạc bộ Hội Liên hiệp Văn nghệ Việt Nam số nhà 1 phố Bà Triệu, Hà Nội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 21 người trong đó có hoạ sĩ Trần Văn Cẩn. Năm 1958 hoạ sĩ Trần Văn Cẩn được Ban chấp hành bầu là Tổng thư ký thay hoạ sĩ Nguyễn Văn Tỵ.

Sau Đại hội của Hội, triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1958 được tổ chức tại 42 Yết Kiêu Hà Nội. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn tham dự với tác phẩm: Nối lại dây gầu- sơn dầu;  Tát nước đồng chiêm – sơn mài; tác phẩm được vẽ sau khi đi thâm nhập thực tế ở vùng Xuân Thượng, Nam Định. Tác phẩm Tát nước đồng chiêm  của ông đã được tặng giải Nhất.

Tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1960 tại 42 Yết  Kiêu, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã tham dự tác phẩm sơn dầu Nữ dân quân miền biển, tác phẩm này đã giành được giải Nhất. Hai năm sau, năm 1962, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đã gửi tới triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1962 ba tác phẩm: Mùa đông sắp đến- sơn mài; Chân dung bác thợ lò- sơn dầu và Thiếu nữ áo trắng-  sơn dầu.

Năm 1964 đế quốc Mỹ đưa chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc, cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1964, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn đó đã chuyển công tác về Hội Mỹ thuật Việt Nam

Trong thời gian công tác ở Hội bên cạnh công việc lãnh đạo, ông cố gắng sắp xếp để có nhiều thời gian đi vẽ thực tế đến các Sở công nông nghiệp và tuyến lửa, đi vẽ về vùng mỏ Quảng Ninh, vào khu IV (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá) năm 1964; Quảng Bình, Vĩnh Linh năm 1969, 1970. Đi Trường Sơn vào Tây Nguyên năm 1975 và vào Buôn mê thuột ngay sau ngày giải phóng. Những chuyến đi này đã giúp ông gắn bó với thực tế sản xuất và chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước bằng những tác phẩm: Gác đêm, Thuyền hải thôn, Đèo Nai, Sinh hoạt đội ngư thuỷ, Căn  phòng dưới hầm Di Loan, Lão dân quân, Cửa vào địa đạo, Nuôi trẻ trong lòng đất, Nghe đài, Cảnh giới, Kéo lưới…, những cảm xúc và ghi chép thực tế đã giúp ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như Thằng cu đất Mỏ- sơn mài (1968; Mưa mai trên sông Kiến- sơn mài (1972).

Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn trong cương vị Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam đã cùng với Ban thường vụ Hội xây dựng Hội lớn mạnh trong cả nước. Hai triển lãm mỹ thuật toàn quốc lớn năm 1976 và năm 1980 được tổ chức tại Hà Nội. Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn vẫn tiếp tục sáng tác và có những tác phẩm tham dự: Hồ Chủ Tịch trên lễ đài mừng chiến thắng  (1975);  Tiến sâu vào lòng đất và Trong lòng đất- sơn mài (1976); Làm thuỷ lợi, Một trận đánh Mỹ, nguỵ ở Cheo Reo (1979); Đưa nước lên Cao nguyên và Chân dung Bé Nga- sơn dầu (1980). Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1990 với tác phẩm: Người Hà Nội – sơn dầu (53 x 70)

Ngoài sáng tác hội hoạ ông còn làm minh hoạ, trình bày sách, sáng tác mẫu mỹ nghệ…

Khó có thể kể hết được những thành tựu sáng tạo của ông, vậy mà đến tuổi 70, vào ngày sinh nhật 13 tháng 8 năm 1980, ông mới tổ chức khai mạc triển lãm cá nhân đầu tiên tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam với 138 tác phẩm chọn lọc từ nhiều thể loại: hội hoạ, đồ hoạ, minh hoạ sách báo, phác thảo bố cục, thể nghiệm trang trí gốm… và những lời giới thiệu trang trọng: “để báo cáo với công chúng về đặc điểm và thành tựu sáng tạo của hoạ sĩ gần nửa thế kỷ  trong đó có 35 năm dưới ánh sáng cách mạng… Với năng lực sáng tạo khá dồi dào về các thể loại và chất liệu kỹ thuật: sơn mài, sơn dầu, khắc gỗ, lụa… và sở trường sử dụng chất liệu sơn mài dân tộc, hoạ sĩ đã tạo một định hình cho bút pháp và phong cách sáng tạo riêng của mình, mà ai cũng có thể dễ dàng cảm nhận được. Đó là sắc thái chân thực, hồn nhiên tươi mát, và giàu chất trữ tình như tâm hồn lạc quan, yêu đời, phong độ tao nhã và thị cảm trong sáng của hoạ sĩ… Hoạ sĩ cũng đã dung hợp nhuần nhuyễn yếu tố tạo hình của truyền thống nghệ thuật dân tộc, nhất là tính chất truyền cảm  ở nghệ thuật dân gian của ông cha ta, và hấp thụ có hiệu quả tinh hoa nghệ thuật tạo hình hiện đại của nhân loại mà không rơi vào tình trạng lai căng hoặc phục cổ…”.

Danh hoạ Trần Văn Cẩn qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1994 tại Hà Nội ở tuổi 84. Ông thực sự xứng đáng với những danh hiệu và phần thưởng cao quý: Nhà Giáo Nhân Dân, Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật Cộng Hoà dân Chủ Đức, Giải Thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Nhiều tác phẩm của ông đã nhận được các giải thưởng:  Giải Nhất các triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1960, 1976, 1980

Danh hoạ Trần Văn Cẩn được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Hai, Huân chương lao động hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Vì  sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, Vì thế hệ trẻ… Huy chương kỷ niệm Lê nin,

Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn là tấm gương sáng về lao động sáng tạo nghệ thuật và trách nhiệm trong công tác. Tên tuổi và tác phẩm của ông sống mãi với nhân dân, với đất nước, và trong mỗi chúng ta.

TRẦN KHÁNH CHƯƠNG – Theo wikipedia Tiếng Việt

KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY SINH NHẠC SĨ, HỌA SĨ, THI SĨ VĂN CAO (1923 – 2013): CÓ MỘT HỌA SĨ TÀI BA, VĂN CAO

Văn Cao nổi tiếng với nhiều bài hát từ trước Cách mạng Tháng 8, đặc biệt là bài hát “Tiến Quân ca“, sau này được chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhiều bài hát trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau thời kỳ thống nhất đất nước đã đưa ông vào vị trí một nhạc sĩ hàng đầu tài danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, Nghệ thuật đợt I (1996 – ngành Âm nhạc). Văn Cao cũng là một nhà thơ với nhiều tác phẩm đi vào lòng người.

Xem thêm:

Chân dung Văn Cao tự họa
Chân dung Văn Cao tự họa

Nhạc và thơ của ông hình như đã làm cho nhiều người quên ông là một hoạ sĩ với nhiều tác phẩm xuất sắc. Được biết, trước Cách mạng Tháng Tám ông cũng đã theo học “bàng thính” tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương một thời gian ngắn, nhưng rồi với làn sóng cách mạng sôi sục, ông đã sáng tác nhiều bản nhạc mang hơi thở của thời đại. Âm nhạc và thơ ca đã cuốn hút ông và đã đưa ông đến vị trí là một nhạc sĩ hàng đầu của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Vì không am hiểu nhiều về âm nhạc và thơ ca nên tôi không dám “bình” nhiều về hai lĩnh vực này của ông.

Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm
Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm

Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc tới một Văn Cao hoạ sĩ mà những đóng góp của ông cho nghệ thuật hội hoạ Việt Nam rất đáng trân trọng và ghi nhận. Về sáng tác Mỹ thuật, khi ở tuổi 20, ông đã có những sáng tác dự triển lãm Duy nhất, 1943 với phong cách lập thể, được biết đến như một hoạ sĩ tiên phong với các tác phẩm: Cô gái dậy thì, Sám hối, Nửa đêm, Cuộc khiêu vũ. Những năm sau, ông tiếp tục sáng tác các tác phẩm sơn dầu mà đến nay người ta còn nhớ tới như: Thái Hà ấp đêm mưa, chất liệu bột màu, năm 1943, nghĩa là đã cách đây 70 năm. Ngoài ra người ta còn nhớ tới một tác phẩm sơn dầu khác sáng tác sau đó một năm, năm 1944, đó là tác phẩm Sám hối nửa đêm, rồi sau đó là bức Ngõ Nguyễn Du, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám, Văn Cao là phóng viên tham gia trình bày “Báo Lao động” thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lên chiến khu Việt Bắc và tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời kỳ này, Văn Cao nổi tiếng với âm nhạc. Trong điều kiện thiếu thốn hoạ phẩm nên với hội hoạ, ông có phần xao nhãng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ tới một số tác phẩm của ông sáng tác trong thời kỳ này, thể hiện tình cảm của ông đối với cuộc kháng chiến chống Pháp như tác phẩm Cây đàn đỏ, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1949; Lớn lên trong kháng chiến, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1952.

Thiếu nữ hái chè - Văn Cao
Thiếu nữ hái chè – Văn Cao

Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, Văn Cao đã có nhiều đóng góp cho nghệ thuật tạo hình. Giới văn nghệ Việt Nam, trong đó có Mỹ thuật không thể quên những minh hoạ của Văn Cao trên các báo Văn, Văn Nghệ… với một bút pháp riêng, sử dụng nhiều nét thẳng và đơn giản và có chữ ký là “VĂN” rất đơn giản nhưng giới Mỹ thuật ai cũng biết đó là minh hoạ của Văn Cao. Cũng trong thời kỳ này, ông làm nhiều bìa sách, và cũng tạo được một phong cách riêng rất Văn Cao. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sau ngày thống nhất đất nước, Văn Cao không chỉ có minh hoạ làm bìa mà còn vẽ nhiều tranh sơn dầu có giá trị nghệ thuật cao. Mọi người đều không thể quên bức tranh sơn dầu có giá trị đuợc trưng bày trong các Triển lãm và lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Chân dung bà Băng, Chân dung nhà văn Đặng Thai Mai, Cô gái và đàn dương cầm, Dân công miền núi… với bố cục chặt chẽ, bút pháp hiện đại, sử dụng kết hợp giữ đường nét và những mảng màu lớn. Các bức tranh này đều thẫm đẫm tình cảm của người hoạ sĩ tài hoa…

Những tác phẩm cho ta thấy bên cạnh là một nhạc sĩ hàng đầu, một nhà thơ nổi danh, ông còn là một hoạ sĩ tài năng thuộc thế hệ đầu xây dựng nền Mỹ thuật hiện đại và cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam mà còn là hội viên lâu năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Tôi còn nhớ, trong một lần Nhà xuất bản Mỹ thuật giới thiệu cuốn sách Các hoạ sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương của hoạ sĩ Quang Phòng, nhiều tác giả thuộc thế hệ của ông đã có mặt cùng vui chung với cuốn sách này. Văn Cao cùng với vợ ông cũng đã đến dự, tôi đã xin được chữ ký của ông cùng các hoạ sĩ thế hệ Mỹ thuật Đông Dương vào dưới các tác phẩm in trong cuốn sách và có dịp để chuyện trò với ông… Tôi cũng không lý giải được vì sao một số hoạ sĩ có tên tuổi của Việt Nam như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Nguyễn Đức Toàn… trước cách mạng đều đã từng học “bàng thính” trường Mỹ thuật Đông Dương một thời sau này đều trở thành những nhạc sĩ tên tuổi của ngành âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, Hải Phòng. Nguyên quán tại thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông nhiều năm sống và làm việc tại Hà Nội và mất ngày 10 tháng 7 năm 1995 tại Hà Nội.

Xem chi tiết về Văn Cao tại đây

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao, Hội Mỹ thuật Việt Nam và giới Mỹ thuật Việt Nam luôn nhớ đến ông, một hoạ sĩ tài hoa có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Trần Khánh Chương

Quách Phong và bức tranh Sài Gòn Giải Phóng

Ấn tượng về họa sĩ Quách Phong (Quách Văn Phong hay Nguyễn Anh Việt) là một người khiêm nhường, giản dị với những bức tranh sơn mài có bút pháp mạnh mẽ thể hiện đề tài “Chiến tranh cách mạng”, trong đó tác phẩm “Sài Gòn giải phóng” là một điểm nhấn trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam khiến người ta nhớ đến vào dịp 30 tháng 4 năm 1975, kỷ niệm ngày chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Sinh ra trong một gia đình kháng chiến có truyền thống cách mạng ở tỉnh Vĩnh Long miền Tây Nam Bộ, gia đình đã cho ông theo học ở trường Mỹ thuật Gia Định, ông tham gia đấu tranh trong phong trào sinh viên vẽ truyền đơn. Năm 1955 ông được đưa ra Bắc học khóa hai hệ trung cấp tại trường Mỹ thuật Việt Nam nay là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (42 Yết Kiêu – Hà Nội) sau được tuyển thẳng lên hệ cao đẳng, học đến năm thứ 3 (tình hình cách mạng nước ta đến hồi ác liệt), 1963 khi 25 tuổi Quách Phong xung phong nhập ngũ vượt Trường Sơn trở về quê hương chiến đấu.

Được tổ chức phân công về Quân khu chiến khu Bác Ái – Ninh Thuận, lấy bí danh là Nguyễn Anh Việt với nghĩa là Việt Nam anh hùng, họa sĩ Quách Phong sống, làm việc, chiến đấu cùng các chiến sĩ, đồng bào.

Thời kỳ này các sang tác của họa sĩ chủ yếu là ký họa, tranh cổ động phục vụ chiến đấu. Ông đi khắp các chiến trường, bên cạnh ba lô, cây súng còn bút, giấy màu, có điều kiện là ông vẽ trực tiếp về chiến sĩ, đồng bào trong sản xuất, chiến đấu, vẽ những tấm gương điển hình tiên tiến. Họa sĩ đã vẽ hàng nghìn bức ký họa, ông tổ chức nhiều triển lãm lưu động, bày tranh tại trận cho bà con, chiến sĩ xem, các tác phẩm của ông có tác động rất lớn động viên tinh thần chiến đấu.

Năm 1973, Nguyễn Anh Việt từ chiến trường ra Hà Nội hoàn thành nốt chương trình cao đẳng mỹ thuật tại trường cũ. Một cơ duyên đã dẫn họa sĩ đến với sơn mài, chất liệu truyền thống dân tộc. Họa sĩ Nguyễn Văn Tâm (trước là bạn đồng học nay là thầy) chỉ cho Quách Phong vẽ tranh sơn mài. Năm 1974 ông được cử đi nghiên cứu sinh ở Bungari, khi Bộ Đại học mời ông lên nhận hộ chiếu thì nghe tin quân ta đánh tới Đà Nẵng, Quách Phong bỏ cơ hội học sau đại học trở về miền Nam để dự trận đánh lịch sử mà ông vẫn nói vui là cho trọn vẹn bộ sưu tập của chiến tranh. Chính vì vậy ông đã được tham gia, chứng kiến trận 30 tháng 4 lịch sử, giây phút Sài Gòn giải phóng, để sáng tác thành công tác phẩm Nắng Tháng Năm (bột màu), vẽ ngay đêm 30/4/1975 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Sài gòn giải phóng (Sơn mài) trưng bày tại Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông – Quân khu 7.

Giải phóng sài gòn - Quách Phong
Giải phóng sài gòn – Quách Phong

Có thể nói bức Nắng tháng Năm là bức ký họa cuối cùng trong tập ký họa về chiến trường của Quách Phong. Khi bộ đội tiến về giải phóng Sài Gòn vào 30/4/1975, kết thúc ngày cuối của tháng 4, tác giả chọn thời điểm vào tháng năm là ngày hôm sau, ngày mai tươi sáng khi thành phố hoàn toàn giải phóng. Trung tâm bức tranh là các chiến sĩ trang phục màu xanh ngồi trên xe tăng bên tháp pháo, xung quanh, trên trời là những lá cờ đỏ sao vàng, cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng tung bay tạo không khí rộn rã, tưng bừng, xốn xang. Những tà áo dài trắng của các nữ sinh (một hình ảnh rất đặc trưng của Sài Gòn) tung bay ngời sáng, mấy nữ du kích, tự vệ đội mũ tai bèo nét mặt hồ hởi. Ánh sáng như nhảy múa được họa sĩ thể hiện qua các đường chạy của mảng sáng tối tạo cảm giác về niềm vui náo nức của ngày giải phóng. Cũng chủ đề này Quách Phong đã tiến tới một bố cục công phu hơn để vẽ bức sơn mài Sài Gòn giải phóng mà 7 năm sau ông mới hoàn thành. Trung tâm bức tranh là cảnh gặp gỡ giữa người dân và chiến sĩ giải phóng. Phía bên trái là cô nữ sinh đi xe đạp tay giơ cao như vẫy chào, cậu thiếu niên cầm chum bóng, bên phải bức tranh là hai cô gái mặc áo dài hoa quay mặt vào nhau, xen giữa là gương mặt nữ chiến sĩ giải phóng. Hai em bé tay cầm vòng nhảy múa. Phía đằng sau các chiến sĩ ngồi trên xe tăng giơ tay chào đón. Góc phải bức tranh trên ô tô tải, bộ đội cúi người giơ tay vẫy những người dân chào đón đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ tung bay trên tháp pháo, bay rợp trời. Phía trên là hình ảnh Bác Hồ như ẩn hiện… khác với bức Nắng Tháng Năm thể hiện niềm vui háo hức, bừng lên thì ở Sài Gòn giải phóng lại có độ trầm sâu (có thể do hiệu quả chất liệu). Họa sĩ thể hiện góc nhìn ở nhiều điểm khác nhau tạo sự mở cho bố cục, làm bức tranh vừa hiện thực vừa khái quát.

Sau này, họa sĩ Quách Phong tham gia công tác là Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Hội đồng giám khảo của Hội, các cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần), cuộc thi và triển lãm mỹ thuật ASEAN do Bộ Văn hóa tổ chức. Bức tranh Sài Gòn giải phóng cùng với Mùa gặt mới ở Củ Chi, Xuống đường Mậu Thân 1968 là các tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Quách Văn Phong được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007”.

Khiêm nhường và kiên định, họa sĩ Quách Phong xác định lý tường thẩm mỹ của mình là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Các tác phẩm của ông là sự lao động cần cù bền bỉ của một chiến sĩ, họa sĩ đã góp lao động, xương máu cho sự nghiệp cách mạng, là một chiến sĩ văn hóa góp phần cho sự nghiệp giải phóng quê hương. 40 năm qua, tác phẩm sơn mài Sài Gòn giải phóng là một điểm nhấn, là sự đóng góp của hội họa đối với lịch sử.

Trần Thị Quỳnh Như

Bản thiết kế trường mầm non “độc nhất vô nhị” tại Sài Gòn

Thiết kế trường mầm non là một bài toán không dành cho tất các các kiến trúc sư phổ thông. Không cần quá cầu kỳ hay phức tạp như các phong cách thiết kế nhà ở thông thường… Thiết kế và xây dựng cũng như các trang thiết bị mầm non sử dụng ở đây cần một khối óc thiên hướng yêu trẻ. Không gian nhiều màu sắc, view đẹp nhưng tinh tế là những điều hết sức quan trọng kiến tạo nên môi trường học tập tốt nhất cho trẻ.

Cùng chiêm ngưỡng mẫu thiết kế trường mầm non độc đáo đã đạt tới “cảnh giới” như chúng tôi đã đề cập phía trên.

Về tổng thể bên ngoài

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (9)
Ngôi trường mầm non với thiết kế độc lạ tại TPHCM

Bạn thấy đấy!!!

Tôi thực sự không thể đoán ra đây là một thiết kế trường mầm non. Khác lạ và đầy cá tính nhưng đó là cả một nghệ thuật…

Xem và cảm nhận một số hình ảnh ngôi trường từ bên ngoài

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (1)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (1)

Phía ngoài công trình khá kín đáo đảm bảo riêng tư và trầm lắng…

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (5)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (5)

Nhưng bên trong trường, các phòng được liên thông với nhau theo cả bề ngang và phương thẳng đứng. Các lối đi, hành lang giúp thầy cô và trẻ nhỏ kết nối, khám phá.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (12)
Tổng thể thiết kế từ phía sau với nhiều cây xanh bao phủ
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (13)
Cầu thang nằm phía cánh bên của ngôi nhà
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (11)
Như một siêu phẩm ánh sáng lúc chiều tàn

Với chất liệu gạch đỏ làm chủ đạo… Không bóng bẩy, màu mè nhưng lại toát lên vẻ đẹp từ sự đơn giản đến khó tin.

Công trình gợi nhớ tới trò chơi xếp hình của trẻ nhỏ do KTS trưởng Đàm Vũ cùng các cộng sự thiết kế. Vật liệu sử dụng chủ yếu là gạch mộc, giúp cho môi trường học tập của bé ở đây trở nên thông thoáng tự nhiên và đem lại vẻ đẹp thẩm mỹ đồng nhất.

Nội thất phía trong trường mầm non

“Chúng tôi muốn tạo ra một môi trường để mọi người có thể cùng khám phá. Trải nghiệm này không chỉ quan trọng với các bé mà còn để khơi gợi niềm cảm hứng cho giáo viên, những người chăm sóc và vui chơi với trẻ hàng ngày” – KTS trẻ ĐV chia sẻ.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (2)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (2)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (3)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (3)

Không gian học tập được chú trọng thiết kế sáng tạo giúp trẻ học cũng như chơi. Cho bé phát triển tối đa khả năng sáng tạo, phát triển trí não một cách tự nhiên thay vì thúc ép như nhiều mô hình học tập khác đang đè nặng nên thế hệ trẻ của chúng ta.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (4)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (4)

Một thiết kế sàn ghỗ đẹp và thân thiện vô cùng. Không sử dụng bàn ghế mầm non hay các loại thiết bị giáo dục mầm non thông thường. Thay vào đó là một “không gian phẳng” đến mức khá khó hiểu…

Nếu bạn là nhà thiết kế…

…Cùng tham khảo bản thiết kế trường mầm non của KTS Đàm Vũ với thiết kế trường mầm non độc nhất vô nhị này.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (6)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (6)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (7)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (7)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (8)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (8)

Trên đây là một bản thiết kế trường mầm non khá mẫu mực của một KTS lâu năm, tài năng với tư dụy hiện đại trong sáng tạo, nghệ thuật… Bạn có ý tưởng hoặc bài viết hay. Để lại bình luận phía dưới bài viết để chia sẻ ý tưởng lên Hội mỹ thuật Việt Nam – Vietnamfineart.com.vn

QTIdesign.vn

Cuộc diễu hành của những hồn ma tại Artpark-Manfred Kielnhofer

Công viên nghệ thuật giới thiệu triển lãm Ghost Parade in the Artpark (Cuộc diễu hành của những hồn ma trong Công viên Nghệ thuật). Điều này nhắc đến những người đi dạo loanh quanh như những hồn ma tại Linz, giống như câu nói viết tại gallery Công viên Nghệ thuật: Con người vẫn luôn đi tìm sự phù du. Mười lăm tác phẩm điêu khắc đã được thực hiện bởi nghệ sĩ Manfred Kielnhofer và được sơn màu từng phần. Tất cả quay quanh phạm vi Nghệ thuật – Khoa học – Tín ngưỡng.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Manfred Kielnhofer tuyên bố: “Điểm tập trung trong nghệ thuật của tôi là những điều khác thường ở con người. Là một nghệ sĩ, dáng hình và chuyển động tự nhiên của những tư thế dáng người đặt ra cho tôi một thử thách đáng để đối mặt. Những góc nhìn và phối cảnh không gian khác nhau là điều tôi cố gắng nắm bắt và thể hiện trên tác phẩm của tôi, nhìn thấy dấu ấn của riêng mình trên nó. Tác phẩm gần nhất của tôi thực hiện theo phong cách trừu tượng, bề ngoài quét những mảng màu qua đó tôi biểu đạt được một khoảng cách nào đó đến tác phẩm. Mỗi một bức họa của tôi đều riêng biệt trong cách thể hiện lẫn tính chất”. (AD)

Họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988)

BÙI XUÂN PHÁI (sinh ngày 1- 9- 1920, mất ngày 24- 6- 1988 tại Hà Nội) quê ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông theo học tại Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá XV (1941 – 1946); hội viên ngành hội hoạ Hội Mĩ thuật Việt Nam từ 1957.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái
Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bùi Xuân Phái tham gia Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội; hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền ở Liên khu III và Việt Bắc (1947- 1952); viết báo và minh hoạ báo tại Hà Nội (1952 – 1954); giảng viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam (1956 – 1957); hoạ sĩ tổ sáng tác Hội Mĩ thuật Việt Nam. Trong quá trình sáng tác ông đã được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Xem tranh của ông, người ta phát hiện ra một đời sống tinh thần riêng đầy quyến rũ của những khu phố cổ Hà Nội, một phong cách riêng, thường được gọi là “Phố Phái”. 

Trước giờ biểu diễn - Bùi Xuân Phái
Trước giờ biểu diễn – Bùi Xuân Phái



Trong sự nghiệp của mình, ông không chỉ vẽ về phố mà còn vẽ nhiều đề tài về nghệ thuật chèo, về nông thôn, về vùng mỏ, chân dung… Ở mỗi đề tài, ông đều để lại những tác phẩm tiêu biểu và được đánh giá cao. Ông đã có 6 triển lãm cá nhân tại Hà Nội. Đã có nhiều cuốn sách viết về ông, gần đây nhất có mấy bộ sách “Bùi Xuân Phái – cuộc đời và tác phẩm” do NXB Mĩ thuật in của hai tác giả là hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (con trai ông) và nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn. Bộ sách đã tập hợp tương đối đầy đủ các tư liệu về cuộc đời nghệ thuật của Bùi Xuân Phái. Hiện nay, tranh của ông được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và trong nhiều bộ sưu tập cá nhân trong và ngoài nước. Riêng ngôi nhà của ông, số nhà 87 phố Thuốc Bắc, Hà Nội được coi như một bảo tàng nhỏ, trưng bày những tác phẩm của ông và con ông. 

Phố hàng Mắm - Bùi Xuân Phái
Phố hàng Mắm – Bùi Xuân Phái


Tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được tặng giải thưởng tại Triển lãm Mĩ thuật tháng Tám năm 1946; Giải Nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc năm 1980; Giải thưởng Triển lãm Đồ hoạ tại Leipzig- Đức; Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật Thủ đô các năm 1969, năm 1981, năm 1983 và năm 1984.

Năm 1996 hoạ sĩ Bùi Xuân Phái được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm: Hà Nội kháng chiến – Sơn dầu- 90x110cm (1954); Vợ chồng chèo – Sơn dầu (1967); Sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Hóa trang sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Xe bò trong phố cổ – Sơn dầu (1972); Phố cổ Hà Nội – Sơn dầu (1972); Phố vắng – Sơn dầu (1981); Trước giờ biểu diễn – Sơn dầu- 60x80cm (1984).

Nhớ Văn Cao

Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi trong lần họp Đại hội Nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV là được gặp và vẽ họa sĩ tài danh Văn Cao. Ông vốn là một nghệ sĩ đa tài được mệnh danh là “Cầm, kỳ, thi, họa”, là một nghệ sĩ hiếm hoi của Việt Nam mà bước lãng du nghệ thuật lĩnh vực nào cũng để dấu ấn sâu đậm.

Tháng 12/1994. Đại hội đại biểu nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV họp tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, với hơn 300 đại biểu đại diện cho hơn 1.100 hội viên dự. Họp tới ngày thứ hai, tôi mới thấy Văn Cao trên hàng ghế đầu. Ngay lập tức tim tôi rung lên. Một ông già nhỏ bé với đôi mắt sâu đen thẫm, mái tóc bạc như sương ấy thu hút tôi kỳ lạ.

Nghe danh ông đã lâu, lại học ở cùng phố có nhà của ông (Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội ở phố Yết Kiêu) song có lẽ do mặc cảm mình quá nhỏ bé trước ông nên tôi chưa một lần dám gặp. Giờ giải lao, ông được một phụ nữ cũng cao tuổi, tóc bạc nhưng còn khỏe đỡ ông đi ra sân, đó là bà Băng – vợ ông. Tranh thủ lúc mọi người đang tìm nhau hàn huyên, tôi lách đến bên bà và xin phép được hỏi thăm ông. Sau vài lời giới thiệu, tôi hát khe khẽ để ông và vợ ông nghe:

“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau ven rừng âm u…”. Mắt ông sáng lấp lánh khi nghe tôi say sưa hát; có lẽ ông hơi ngạc nhiên vì không ngờ anh chàng họa sĩ “tỉnh lẻ” như tôi ở xa tít tận Đà Lạt lại thuộc bài hát của ông đến thế. Có nhiều họa sĩ thấy vậy cũng kéo đến hòa giọng hát với tôi: “Trên dòng sông trở về đoàn người, reo mừng vui trên sóng nước biếc…”. Có lẽ tới mấy “bè” vì không phải ai cũng thuộc bài Sông Lô. Hát xong tôi chợt nghĩ: “Phải có một tấm hình kỷ niệm với ông”. ý nghĩ ấy lóe lên và tôi nhờ họa sĩ Hoài Phi (Tp. Hồ Chí Minh) chụp giúp, đông người đến chụp cạnh ông và tôi. Phải 7 năm sau tấm ảnh này mới đến tay tôi. Tôi không thể ngờ được rằng đây là tấm ảnh quý giá mà tôi có vì chỉ 8 tháng sau (7/1995) ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của đông đảo người yêu âm nhạc và nghệ thuật cả nước.

Hết giờ giải lao mọi người vào. Tôi cùng bà Băng đỡ ông vào ngồi. Tôi không còn chú ý đến cuộc họp nữa mà lao vào vẽ chân dung ông. Bức chân dung phấn màu tôi còn giữ đến nay kể cả chữ ký của ông thật quý giá với tôi.

Sự nghiệp thơ – nhạc – họa Văn Cao thật đồ sộ, song tôi vẫn cho rằng thơ và nhạc ông thành công hơn cả. Không phải bất cứ nhạc sĩ nào trong cuộc đời mình cũng được dân tộc tôn vinh một bài hát để trở thành Quốc ca. Ông đã viết bài Tiến quân ca ở Hà Nội trong những ngày mới tìm đến cách mạng và được Quốc hội khóa 1 công nhận là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước đó nhiều ca khúc đã mang lại cho ông sự ngưỡng mộ của công chúng âm nhạc. Nếu ca khúc Buồn tàn thu ông viết ngay từ khi mới 18 tuổi (1941) còn hơi hướng nghệ sĩ lãng mạn thì những Thiên thu, Trương Chi, Suối mơ ông đã đổi mới sáng tác, cách tân về giai điệu, khúc thức và hướng về âm nhạc dân tộc.

Sau Tiến quân ca, ông cùng Nguyễn Đình Thi hẹn nhau viết 2 bài hát cho Việt Minh kháng Nhật; Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít còn ông với ca khúc Chiến sĩ Việt Nam. Một loạt các ca khúc cách mạng khác của ông đều mang dấu ấn rõ nét: Tiếng gọi công nhân, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Tiến về Hà Nội, Bắc Sơn, đặc biệt là Trường ca sông Lô… là những ca khúc hùng tráng, nhưng vẫn mang phong cách thư thái, đĩnh đạc của tâm hồn con người Việt Nam.

Với hội họa, Văn Cao tham gia triển lãm Salon Unique (duy nhất) 1944 tại Hà Nội với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Nhiều bài báo đã nhắc đến 3 tác phẩm này với lời nhận xét trân trọng.

Nhận xét về hội họa Văn Cao, Thái Bá Vân – nhà phê bình mỹ thuật Việt Nam viết:

“ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh… Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: Chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sĩ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa… Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc… Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát…”.

Trong lời vĩnh biệt nghệ sĩ đa tài Văn Cao, giáo sư – nhạc sĩ Thế Bảo viết:

“Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

Cuộc đời người nghệ sĩ đa tài lắm truân chuyên ấy qua bao thăng trầm. Rất may sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, trong không khí đổi mới của văn nghệ, những “Đêm nhạc Văn Cao” được tổ chức liên tục ở thành phố Hồ Chí Minh (1986) và Chương trình nhạc Văn Cao tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Hà Nội (1987)… Công chúng yêu âm nhạc ở Thủ đô và cả nước thật bồi hồi xúc động lắng nghe những ca khúc mượt mà, hùng tráng của ông được trình diễn.

Ngày ông mất, Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng cũng tổ chức lễ tưởng niệm ông tại 18 Lê Hồng Phong – Đà Lạt. Trong không khí trang trọng sâu lắng, tôi cùng nhạc sĩ Mạnh Đạt hát bài Trường ca sông Lô và tất cả những người dự đã cùng hát trong âm hưởng bi tráng.

Vi Quốc Hiệp

Cổ ngọc trang sức – Ngọc tỷ Việt Nam 5000 năm

Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. Kinh Dương Vương làm vua phương Nam năm 2879 TCN, xã hội thời đó là có văn hóa, điển chương, tôn ti trật tự và định chế xã hội. Con Lạc Long quân là Hùng Vương, mẹ là Âu Cơ, con gái Đế Lai. Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu Văn Lang. Thời đại Hùng Vương nước Văn Lang (xăm hình) Âu Lạc, Nam Việt xuất hiện hàng ngàn năm TCN, có đỉnh cao văn hóa đồ đồng thau, đồ sắt, cùng với sự phát triển nhiều đồ trang sức bằng vàng, ngọc, phục vụ yêu cầu làm đẹp cho tầng lớp quí tộc. Nhiều công xưởng chế tác ngọc tinh xảo còn lại dấu tích đến ngày nay. Con người đã biết đến đồ ngọc khoảng 7000 năm. Người Ai Cập cổ đại quan niệm linh thiêng, ngọc là máu của rồng. Văn minh cổ đại châu á coi ngọc là một trong tứ đại quý. Sự quí hiếm của ngọc là biểu tượng cao quý, giàu sang, sự trường tồn, hưng thịnh. Ngọc có màu sắc biến ảo, rực rỡ, trong sáng, hình dạng thay đổi lung linh, cứng rắn, mang lại phúc lành, tượng trưng cho quyền lực đế vương (ngọc tỷ). Người Việt cổ đại đã biết và sử dụng đồ ngọc trong đời sống xã hội. Văn hóa Phùng Nguyên còn lưu lại pho tượng nam bằng ngọc xanh, xám trong cao 3,6cm cách đây khoảng 4000 – 3500 BP; một lưỡi bôn tứ giác ngọc, màu vàng ngà dài 3,1cm x 1,2cm ở Phú Thọ, những hạt chuỗi ngọc thời Phùng Nguyên. Tiếp sau là lưỡi đục bằng ngọc màu vàng xám 5cm x 5cm vòng tay, khuyên tai Đồng Đậu, nhiều loại hình trang sức hạt chuỗi hình đốt trúc, hình cầu, hình ống, hoa tai 4 cạnh khoét lõm (hình vuông), vòng tay. Đến văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Giồng Cá Vồ… có các loại khuyên tai 2 đầu thú bằng ngọc xám, bích ngọc vô cùng phong phú, đa dạng không thể kể hết. Trên đất nước Việt Nam có nhiều công xưởng chế tác ngọc, khoảng hơn 22 công xưởng lớn từ Bắc vào Nam. ở Phú Thọ công xưởng ngọc Hồng Đà rất lớn, có vị trí thuận lợi tại ngã ba sông Hồng, sông Đà, nối liền với Vân Nam (Điền Việt) gắn liền với nước Myanmar là nơi sản xuất đồ ngọc nổi tiếng thế giới. Myanmar có những mỏ đá quý Jasper, Nephrite lộ thiên thuộc phía Bắc nước này. Tôi đã đến thăm nhiều tượng Phật ngọc cao ngót 10m là nguyên một khối ngọc ở Myanmar. Ngọc Myanmar đã đưa đi khắp thế giới trong đó có con đường qua Việt Nam là công xưởng Hồng Đà, công xưởng chế tác ngọc ở đồng bằng Việt Nam. Bãi Tự, thuộc làng Tiên Thượng, sông Tương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, rộng khoảng 1 vạn mét vuông, gần sông Tiêu Tương, nằm trên 1 gò đất thấp, gần chùa Phật Tích. Nơi đây trước kia sản xuất nhiều đồ trang sức bằng ngọc, hiện còn tìm thấy nhiều chế tác dang dở. Xuôi về phía hạ lưu là công xưởng Tràng Kinh, nằm trên núi Hoàng Tôn và núi Ao Non thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xưa kia nằm kề biển Đông là công xưởng ngọc lớn nhất nước ta. Tại đây đã tìm thấy ngọc Jasper và Nephirte sản xuất các loại vòng tay, hạt chuỗi, nhẫn,v.v. Khu vực miền trung tập trung ở vùng sông Mã, sông Chu, miền nam các xưởng ngọc ở sông Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với nhều đồ ngọc chế tác tinh xảo.

Cổ ngọc trang sức Việt Nam
Cổ ngọc trang sức Việt Nam

Thẻ ngọc thời An Dương Vương Âu Lạc

Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” đã tìm được ở Quảng Châu là đất Giao Châu thời cổ. Năm Ngô Hoàng Vũ thứ 6 (227), vua Ngô nghe tin Sĩ Nhiếp mất, mới chia Hợp Phố trở về bắc thuộc Quảng Châu, quận Hợp Phố trở về Nam thuộc Giao Châu, đặt Quảng Châu phụ thuộc vào nhà Tấn (Đại Việt sử ký toàn thư T1/165/168). Theo nhà nghiên cứu “sở giản” Dư Duy Cương ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam: “Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” có hình dạng gần chữ nhật, bốn góc thẻ khắc bốn chữ An Dương hành bảo, khổ chữ to hơn khổ chữ phía trong mặt thẻ gồm 124 chữ lối cổ trựu. Bản khắc toàn văn sáu mươi (Giáp Tý), (60 chữ can chi). Xung quanh trang trí khắc đường vằn sóng lượn. Do bị chôn lâu ngày dưới đất nên màu vàng hơi hung hung đỏ. Mặt trái thẻ trang trí đường cong hình móc câu. Nét chạm trên “An Dương ngọc giản” thô. Ông đã phân tích “Ngọc bảo An Dương này là của An Dương cổ đại Việt Nam. An Dương hành bảo có lỗ đeo, đây là loại ngọc phiến người xưa đeo là bật báu hộ thân, trừ tà để được an lành”. Ngọc giản này đào được ở phía Đông Nam cách thành phố Quảng Châu 18km ở trên hạ lưu sông Việt – Giang do một nông dân khi cuốc đất đào được ở sườn núi năm 1932. Những ngọc giản đào được ở Quảng Châu khoảng 200 thẻ, trong đó có thẻ ngọc khắc chữ An Dương là của nước Việt. Khi Nam Việt đánh bại Âu Lạc, các báu vật của Âu Lạc là chiến lợi phẩm nên mới đào được ở Quảng Châu. Theo Thủy kinh chú dẫn sách Giao Quảng Xuân Thu của Vương Thị: vua Việt là Triệu Đà; khi chết được chôn trong ngôi mộ hiểm hóc thần bí. Việc chôn cất của Triệu Đà là nhân hình thế núi làm lăng mộ. Phần mộ của Đà khá xa hoa và lớn, chôn chứa nhiều đồ quý. Thời Ngô, vua Tôn Quyền đã sai người tìm mộ Triệu Đà, đào núi phá đá, kết cục không tìm được gì. Đà tuy xa xỉ tiếm lạm nhưng vẫn giữ được yên thân, khiến người đời sau không biết chôn ở chỗ nào…”

Như vậy việc phát hiện ngọc giản là chiến lợi phẩm đem tuẫn táng ta có thể thấy ở một số nơi đào được như là mộ giả của Triệu Đà (theo thuyết nghi chủng). Tập tục chôn theo các vật quí báu như ngọc giản chôn theo người chết có khoảng từ đời nhà Thương. Sách Thất quốc khảo đời Minh dẫn sách Mặc trang mạn lục của Trương Bang Cơ đầu thế kỷ XII (1131) đời Tống viết: “Khoảng năm Chính Hòa triều Tống Huy Tông (1111 – 1118) triều đình tìm kiếm các đỉnh, di đời tam đại… sai quân phá mộ Tỷ Can ở phủ Phượng Tường, tìm được mâm đồng đường kính hơn hai thước, có khắc 16 chữ, lại bắt được 43 phiến ngọc mỗi phiến dài hơn 3 tấc, trên tròn mà nhọn, dưới rộng mà vuông, sắc ngọc trong sáng. Đó đều là những vật rất lạ trong những đồ chôn theo”. Theo lời tả thì hình dạng lớn bé các vật đó giống như “An Dương ngọc giản” ta mới tìm thấy, chỉ có khác là đảo ngược phía trên xuống dưới và không có văn tự mà thôi”.

Những ước đoán của Dư Duy Cương năm 1956 được chứng minh 24 năm sau, tại Quảng Châu đã phát hiện ra mộ của cháu Triệu Đà là Văn đế Triệu Muội tháng 8 năm 1980, con thái tử Trọng Thủy. Báo cáo khảo cổ do Mạch Anh Hào giám đốc danh dự của viện bảo tàng Quảng Châu trong bài tường trình tại Hội nghị khảo cổ Đông á tháng 3 năm 1986 tại Hội nghị sảnh Đại học Hồng Kông. Trước đây Tôn Quyền đã sai tướng Lã Du tìm mộ Võ Đế Triệu Đà nhưng không tìm được, sau đó đã tìm mộ của Minh Đế Anh Tề, là con của Văn Đế Triệu Muội, chắt của Võ Đế Triệu Đà, lấy được rất nhiều bảo vật trong đó cũng có nhiều đồ ngọc. Theo lời truyền ngôn mộ của Triệu Đà đã được di về Việt Nam khu vực gần chùa Thầy thuộc Hà Nội ngày nay. Vùng này cũng là nơi tể tướng Lữ Gia đánh nhau bị thua quân Hán do Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức chỉ huy. Nước ta bị Hán xâm lược từ đó, năm Tân Mùi (110 TCN).

Những đồ ngọc ở lăng Văn Đế Triệu Muội – Nam Việt

Lăng mộ Triệu Muội được tình cờ phát hiện ra sau 2200 năm là một dấu ấn lịch sử to lớn, có nhiều giá trị về văn hóa, mỹ thuật, nhạc khí, trang sức, trang phục, chứng minh bằng vật chất cụ thể nền văn minh Việt Nam. Trong lăng mộ có nhiều đồ dùng sinh hoạt, gấm vóc, ngọc ngà, gốm sứ, trống đồng, thạp đồng của thời Hùng vương nước Văn Lang và An Dương nước Âu Lạc. Riêng về đồ ngọc, có một khối lượng rất lớn, chạm khắc tinh xảo khoảng hơn 200 món ngọc khí. Đầu tiên phải kể đến bộ quần áo, giầy bằng ngọc để liệm cho Văn Đế, được liên kết bằng 2291 miếng ngọc khâu bằng chỉ tơ đỏ, viền gấm đỏ (ti y ngọc lũ) đã được chế tác tại các công xưởng ngọc ở Việt Nam. Ngoài hàng chục ấn vàng, mộ Văn Đế còn 9 ấn ngọc trong đó có ba ấn đề chữ: Đế ấn, Triệu Muội, Thái tử được đặt bên thi hài Văn đế.

Đế ấn Triệu Muội là một khối ngọc mầu trắng ngả vàng, xung quanh thành ấn trang trí đường triện, trên núm ấn tạc hình linh phù tượng hổ há miệng nhe nanh, giương móng vuốt dữ dội. Ta có thể so sánh với một ấn ngọc thời Lê Trịnh thế kỷ XVI, XVII là một khối ngọc màu xanh xám cao 6,7cm x 7,3cm, là ấn Vạn thọ vô cương, trên núm có hình linh thú tượng hổ tương tự cách nhau khoảng 1800 năm về tỷ ấn bằng ngọc Việt Nam. Đồ bích ngọc gồm 56 món được chế tác vô cùng tinh xảo, mỹ thuật, chạm khắc cầu kỳ hình rồng trong các bích ngọc tròn. Một đại bích ngọc (nha chương) có đường kính lớn 33,4cm được mệnh danh là vua của các loại bích ngọc. Một hộp ngọc hình trụ cao 77cm chạm hình 2 con phượng và các hình trang trí phù điêu chau chuốt có ánh màu vàng trong khối viên trụ màu xanh. Nhiều đai đeo thắt lưng để móc đeo kiếm bằng ngọc nhiều màu dài 18,4cm hình hơi cong được chế tác cho Văn Đế đeo kiếm, đeo tỷ ấn, đeo túi hương liệu, chạm khắc hình rồng, hình rùa, rắn, nhạn rất sinh động. Những đai lưng bằng ngọc này còn có thể thấy trong đồ ngọc của triều Nguyễn lưu giữ được của Việt Nam có trang trí hoa văn khắc chìm, nổi bằng ngọc trắng, trắng ngà từ thế kỷ I đến thế kỷ III dài 8,5cm x 2,1cm có hình dáng tương tự ở mộ Văn Đế nhưng ngắn hơn nhiều. Đồ ngọc còn chiếc ngọc giác bôi (chén uống rượu) hình sừng tê là đồ đặc biệt, có một không hai của Nam Việt. Nhiều đồ trang sức ngọc đeo cổ hình vũ nữ, màu vàng dáng múa sinh động. Một âu ngọc màu vàng đồng trong mờ hình tròn, trông nghiêng hình ô van, cao 7,7cm, đường kính 9,8cm, đỉnh nắp có khuyên vòng tròn chạm hoa văn vặn thừng kiểu Đông Sơn, chui qua núm nắp, chứng tỏ khi chế tác từ một khối ngọc đã khéo léo tách ra chui lồng vào nhau vô cùng tinh tế của thợ ngọc Việt Nam hơn hai ngàn năm trước. Ngoài ra còn có một tượng ngọc màu vàng trang phục gấm hoa sen, tay rộng đang múa, tóc chải xẻ ngôi giữa buông ra phía sau, rất điển hình thiếu nữ Việt. Trong mộ còn có gối ngọc trai. Một hộp đựng hàng ngàn viên ngọc trai kích thước lớn từ 1 đến 3cm. Thời Lý nước ta cũng đã phải nộp cống phẩm nhiều loại ngọc to bằng quả mận, quả đào sang triều Tống. Thời Mã Viện nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh đã sang vơ vét đồ vàng, ngọc, ngà voi của nước ta rất nhiều, mang về Trung Hoa. Nhân đây, xin dẫn một câu chuyện cướp ngọc của nước ta là viên bại tướng nhà Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị, đã chạy trốn khỏi Thăng Long khi bị vua Quang Trung tiến ra bắc năm 1789. Sách Thanh Cung mười ba triều Việt: “có một hôm Hòa Khôn đi vào cung chầu sớm, thấy viên đại thần Tôn Sỹ Nghị tước Văn Tỉnh Công đã đến triều phòng ngồi đợi từ trước. Nhân lúc chờ đợi chẳng có chuyện gì để giết thời gian, Nghị bèn lấy chiếc tỵ yên hồ (lọ hình tỳ bà) trong bọc ra ngắm chơi. Hòa Khôn thấy vậy, chạy tới xem thì ra chiếc tỵ yên hồ này là một khối trân châu lớn vừa bằng quả trứng gà, chạm trổ rất mỹ lệ. Khôn thích quá, liền giơ tay ra muốn cầm lấy. Nghị hoảng lên vội nói: “Ngọc này nhân tôi đi đánh Đại Việt nên cướp được đó, hôm qua tôi đã tâu rõ với Hoàng đế (Càn Long) là hôm nay đem hiếu kính ngài, quyết không thể nào cho đại nhân được đâu.

Khôn thấy Nghị có vẻ hoảng sợ quá sá, bèn cười nói: Tôi có ý đùa đại nhân đấy thôi, chứ đâu muốn lấy mà đại nhân sợ?. Cách ba hôm sau, Tôn Sỹ Nghị lại vào chầu, ngồi đợi tại triều phòng và gặp Hòa Khôn. Khôn đưa tay vào trong bọc rút ra một chiếc tỵ yên hồ, đưa cho Nghị xem và nói:

– Đại nhân xem! Tôi cũng có một chiếc tỵ yên hồ đây này.

Nghị cầm xem, thì ra là chiếc ngọc tỵ yên hồ này là đồ Nghị đã dâng cho hoàng đế Càn Long. Nghị hỏi Khôn:

– Đại nhân lấy đâu ra vậy?

– Lấy của hoàng thượng chứ còn lấy ở đâu nữa! – Khôn nói”

Đó là câu chuyện thật, đã xảy ra trong nội cung triều Thanh Càn Long về khối ngọc mà Tôn Sỹ Nghị cướp ở nước ta được Hứa Tiếu Thiên viết trong sách đã dẫn (TCBT/Tc/trang 260, 261).

Đồ ngọc ở nước ta đã được sử dụng nhiều trong tầng lớp quý tộc, trong cung đình, ngọc gắn trên mũ ô sa, các xâu ngọc gắn trên mũ bình thiên, các quan vào hầu chúa Trịnh mặc áo thanh cát đều thắt dây theo kép xâu ngọc.

Trong những món đồ ngọc của vương triều Nguyễn thuộc bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ đồ ngọc Việt từ thế kỷ I đến thế kỷ III tượng cá ngọc mầu xanh xám, cá ngọc màu trắng ngà xanh, nghiên mực ngọc trắng xám dài 9,1cm rộng 6,9cm, tượng thú ngọc màu vàng cam ngả xám, ngọc trắng xám trang trí, hình thú màu trắng hồng, tượng ve sầu ngọc mầu ngà dài 7,4cm rộng 1,8cm, tượng ve sầu mầu nâu xám dài 3,5cm rộng 1,5cm, tượng ngọc màu trắng ngà dài 2,6cm, rộng 1,7cm hình ve sầu… rất nhiều đều ở thời gian đầu công nguyên từ thế kỷ I đến thế kỷ III.

Những đồ ngọc triều Nguyễn

Đồ ngọc triều Nguyễn qua thời gian biến động lịch sử đã bị thất thoát nhiều ra nước ngoài. Tuy nhiên bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ được một số đồ ngọc quí giá, đại diện cho diện mạo đồ ngọc của nhà vua Nguyễn trong hai thế kỷ XIX, XX là các ngọc tỉ, ấn kiếm, đồ thờ, đồ sinh hoạt vui chơi bằng ngọc. ấn ngọc Đại Nam hoàng đế chi tỷ (Thiệu Trị) 1844, ấn Đại Nam thụ thiên vinh mệnh truyền quốc tỷ, là một khối ngọc trắng cao 14,5cm, hình gần vuông 13cm x 12 x 4,3cm thành ấn 3 tầng đế ấn. Núm ấn hình rồng cuộn, đầu rồng cao nổi hoành tráng trên đế ấn (Thiệu Trị). ấn Đại nam Thiên tử chi tỷ bằng ngọc xám xanh cao 10,5cm dài 12,4cm x 5,2cm những tỷ ấn này đều được tạo tác mỹ thuật tinh xảo, chau chuốt sáng trong lung linh hiếm có. ấn Thiện Đức, ấn Y nhân bằng ngọc trắng tạo hình như hình chiếc lá chạm khắc chau chuốt. ấn Nhật tân, Hựu tân ngọc trắng núm ấn rồng khoanh tròn đầu rồng nhô cao nhe nanh vuốt. ấn Nghi biểu Vạn tôn ngọc trắng cao 5,3cm, vuông 3,3cm hình sư tử trắng đang chầu. ấn Khải Định Hoàng đế chi tỷ làm năm Bính Thìn 1916 bằng ngọc trắng, chạm khắc đầu rồng lớn ẩn trong mây hình kim tự tháp. ấn Tự Đức thân hân cao 4,7cm chạm tượng đầu, đuôi rồng nổi gồ cao trong mây trên một khối ngọc vuông cao 4,7cm. ấn Tự Đức Thần Khuê hình ô van là một khối ngọc trắng cao 4,2cm, dài 4,4cm, rộng 2,3cm, tạc tượng rồng uốn lượn đầu vươn cao hai tay vuốt râu kiểu tương tự rồng ở điện Kính thiên… Điểm qua các đồ ngọc khác còn có đôi song kiếm âm dương bằng ngọc trắng và nạm vàng, một thanh dài 80 và một thanh dài 90cm đốc kiếm và chuôi kiểu tây phương. Chuôi gươm bằng ngọc trắng nạm vàng, lưỡi gươm cong kiểu gươm Nam á. Một chuôi kiếm ngọc màu xà cừ nâu đỏ nạm vàng, thanh kiếm thẳng. Đôi đai thờ bằng ngọc trắng, khảm vàng cao 21cm đường kính 16cm đính ngọc nhiều màu: lam ngọc, hồng ngọc, núm đài thờ hình quả chuông trên là bầu hồ lô, tạo dáng nhiều tầng, thắt hồ lô vòng quanh đài là chữ triện lớn, tạo dáng uyển nhã mỹ lệ. Các thẻ ngọc như ý nhiều loại bằng ngọc trắng, bức chạm ngọc Ngự diên Văn bảo bằng ngọc trắng xám, cao 28,6cm rộng 17,8cm hình lưỡng long triều nhật, chạm bong hai mặt bằng ngọc trắng xám, trang trí hoa mỹ, bố cục mỹ lệ thanh nhã, cao quý, trong sáng, mát mắt, mát tay. Đồ nghiên ngọc cũng có rất nhiều kiểu dáng: nghiên mực hình lá sen dài 19cm rộng 13cm ngọc xanh xám nâu có gân lá sinh động, viền mép uốn cong vào rất tự nhiên, đẹp. Nghiên mực hình trái táo, nghiên mực hình ô van ngọc trắng xám, nghiên mực hình chiếc lá, nghiên mực ngọc trắng xám bọc kim loại, nghiên mực ngọc trắng, chạm hoa lá, nghiên mực khắc thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đồ ngọc triều Nguyễn còn các loại thẻ bài như ngự tiền sắc mệnh triều vua Thiệu Trị, Thiệu Trị vạn tuế. Thẻ bài cho các quan đều bằng ngọc trắng. Ngoài ra các loại lọ, bình, đỉnh ngọc chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo, đường nét chạm có truyền thống giống chế tác ngọc thời cổ đại Nam Việt. Một số âu bình, ấm chén uống chè bằng ngọc trắng có xu hướng hiện đại, kiểu cách giao thoa với phương tây không thể kể hết. Đặc biệt một số đồ ngọc đặc trưng Việt Nam như cối, chầy giã trầu bằng ngọc, điếu bát bằng ngọc xanh hồ thủy, đôi sáo bằng ngọc trắng, quản bút, gang kính bằng ngọc, các chậu (quán tẩy) rửa tay bằng ngọc trắng, vành chậu nạm vàng gắn nhiều ngọc màu, các loại ống phóng to nhỏ bằng ngọc trắng cũng nhiều món đồ trang trí tượng ngọc, khánh ngọc, ngọc bội,v.v. không thể kể hết.

Những đồ kim bài, kim khánh, ngọc bội và những đồ ngọc không phải là món đồ thông thường của quí tộc, quan lại được dùng, mà đồ ngọc thể hiện vị trí, danh phận, vinh dự của người được đeo, được sử dụng. Riêng về ấn ngọc tỷ thường là những báu vật, quyền uy của hoàng đế vua chúa, mang biểu tượng thiêng liêng, cao quí. Những đồ ngọc được khảo tả ở trên là những đồ ngọc hiện còn được lưu tồn ở nước ta. Qua nhiều biến động, thay đổi triều đại đồ ngọc bị thất lạc nhiều nơi, đặc biệt là bị quân xâm lược vơ vét, hủy hoại. Những thông tin về ngọc tỉ của các vương triều Lý, Trần đều không có là thiệt thòi lớn về văn hóa. Các quy chế khi tạo tác các loại ấn tỷ của hoàng đế, bao giờ cũng làm từ một khối ngọc lớn, quí giá hiếm có, nên gọi là ngọc tỷ, màu làm bằng hai loại lam ngọc và bạch ngọc có độ ngọc tuổi cao trong sáng, không tì vết, là loại ngọc tốt. Như đời vua Thiệu Trị được dâng ngọc quí để làm ngọc tỷ “Đại Nam thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được coi là thời “thái hòa” nước Đại Nam.

Thời Chúa Trịnh các tỷ ấn cũng đã không còn, nhưng vẫn còn dấu tích đóng trong các bản sắc chỉ, lệnh chỉ như: Tỷ ấn Bình an Vương tỷ có niên đại 1599. Chúa Trịnh Tráng có ngọc tỷ là Thanh đô vương tỷ (1628), chúa Trịnh Tạc là Tây vương chi tỷ (1680), chúa Trịnh Cương có ấn Độ vương tỷ (1709); chúa Trịnh Giang có Uy nam vương tỷ; chúa Trịnh Doanh có Minh vương chi tỷ (1742); chúa Trịnh Sâm có Tĩnh đô vương tỷ (1768); chúa Trịnh Khải có Sư thượng Đoan vương chi tỷ (1785); Những tỷ ấn của chúa Trịnh ngày nay cũng đã không còn để nghiên cứu về hình dáng, chạm khắc nghệ thuật thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Thời Lê Trịnh là một giai đoạn lịch sử phát triển cao mọi mặt của nước ta, để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật kiến trúc đình, chùa, điêu khắc, hội họa. Vua Lê đóng vai trò lo việc đạo, Chúa lo việc đời. Các vua Lê duy nhất chỉ có tiếp sứ thần Trung Hoa, trong năm chỉ ra ngoài Hoàng cung một lần tế giao, lần thứ hai về thăm quê ở Thanh Hóa. Ngoài ra chỉ dùng một kim ấn đóng sắc phong, không có ngọc tỷ. Các chúa Trịnh trực tiếp điều hành đất nước, quân đội, thu thuế, phát động chiến tranh và tiếp sứ thần các nước, các chúa đều có ngọc tỷ. Ngọc tỷ Việt Nam từ thời cổ đại nước Nam Việt vua Võ đế Triệu Đà có ngọc tỷ, đến vua Văn đế cũng có ngọc tỷ riêng. Các vua Việt Nam xưng đế khi còn sống, khác với Trung Quốc. Các vua Hán không xưng đế khi còn sống, chỉ khi chết mới có Thụy hiệu đế. Ngọc tỷ truyền quốc, được coi như là vật tín thiêng liêng truyền ngôi từ đời vua này tới vua khác, đó là những khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc coi việc xưng đế của Việt Nam là tiếm lạm, không chịu công nhận, chỉ gọi là Vương.

Lời kết

Đồ ngọc ở Việt Nam đã được chế tác rất sớm, cùng với đồ đồng, đồ sắt trong chuyện Phù Đổng Thiên vương. Những đồ ngọc Phùng Nguyên, An Dương, Văn Đế Nam Việt có trước công nguyên hàng ngàn năm. Thẻ ngọc An Dương hành bảo, ngọc tỷ Văn Đế là những minh chứng vật chất cụ thể, đỉnh cao của quyền lực đế vương trong xã hội, với một ý thức truyền thống dân tộc riêng, độc lập, ngang cùng Tần Hán, kể cả các triều đại nước ta sau này. Biểu tượng rồng tiên khi tạo tác ngọc tỷ, đặc sắc về phong cách mỹ thuật, được truyền thừa từ nhiều đời không thay đổi trong 23 thế kỷ của người Việt cổ, dù đã bị quân xâm lược xuyên tạc, hủy hoại nhiều tập tục văn hóa Việt hàng ngàn năm, nhằm đồng hóa vẫn thất bại. ở Trung Quốc năm 1968 khảo cổ cũng đã đào được tỷ ấn của vợ Lưu Bang bằng ngọc trắng khắc 4 chữ “Hoàng hậu chi tỉ” núm hình kỳ lân, được khẳng định là của Lã Hậu ở Thiểm Tây gần lăng Hán Đế. Người đã từng định xâm lược nước ta nhưng đã bị Võ Đế Triệu Đà đánh thua ở trận Trường Sa. “Võ đế ngồi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, dùng nghi vệ ngang với nhà Hán”. Sử Trung Hoa đã có nhiều “ngụy thư”, làm ta hiểu sai lạc lịch sử cha ông xưng Đế. Chính việc phát lộ lăng mộ Văn đế Triệu Muội cháu Triệu Đà là một cột mốc lịch sử, chứng minh cụ thể bằng vật chất: Trống đồng, thạp đồng, kim ấn, ngọc tỷ và hơn 200 món đồ ngọc cao cấp nước Việt cổ đại, những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại là hào quang của sự thật lịch sử nước ta thời cổ đại.

Ngày nay trong lễ kỷ niệm 1000 kinh đô Thăng Long, tượng Phật ngọc to lớn và đặc biệt là tượng ngọc Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông được tạo tác rực rỡ ghi dấu năm thứ 4890 của đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến.

TRỊNH QUANG VŨ

Tài liệu tham khảo

1. ấn chương Việt Nam – NXBKHXH, 2005

2. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH, 1993

3. Artifacts in the nanyue King’s tomb Western han dynasty- Nationlal Museum of history Taipei 1998

4. Lăng mộ Văn Đế ở Quảng Châu – Nguyễn Duy Chính

5. Thủy kinh chú sớ – NXB Thuận Hóa, 2001

6. Cổ ngọc Việt Nam- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 2011 Hà Nội

7. Thanh cung 13 triều của Hứa Tiểu Thiên

8. Thư của Dư Duy Cương về thẻ ngọc “An Dương hành bảo” nhà nghiên cứu ngọc giản gửi Hồ Chủ tịch (bản dịch của nhà sử học Trần Văn Giáp năm 1956)

9. Nanyue King’s tomb Western han (volume I, II) cultural Relies Pusblisling House Beijng 1991.

10. Trang sức người Việt cổ, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2001.