[ In tin ] [ Trở về ]
SỰ RA ĐỜI CỦA TRANH SƠN MÀI
 (Thứ Ba, 08/12/2009 - 9:57 AM)
Có thể nói, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trong suốt thời gian tồn tại, đã hoạt động cực kỳ tích cực với công suất của một “cỗ máy gia tốc”, bởi vì như Claude Mahoudot đã viết trong tiểu luận “La peinture francaise et son influence en Indochine/ Nền hội họa Pháp và ảnh hưởng tại Đông Dương”(1), rằng: nó (tức Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) có “một cuộc sống mỏng manh” (l’existence fragile).

Thực chất, giai đoạn mới mở trường (1925-1930) chính là giai đoạn đầu tiên đánh dấu quá trình khám phá chất liệu sơn dầu châu Âu như một điểm tham chiếu cho sự phát triển các loại hình, chất liệu á Đông.

Riêng về hội họa sơn mài, trên bình diện lịch sử, Claude Mahoudot cũng đã có những lời nhận định khá chính xác:

“Trường Mỹ thuật Hà Nội bắt đầu hoạt động từ năm 1926. Khoá đầu tốt nghiệp năm 1931(2). Mười lăm năm trong cuộc sống nghệ thuật của một nước có ý nghĩa gì? Tuy nhiên, công việc làm được rất lớn. Một giáo sư, Inguimberty, đã thực sự tạo ra được một phong trào hội họa, và đã đưa cái gọi là “sơn ta” (laque) vào phục vụ các họa sĩ. Chất sơn sau này hình như sẽ có một vị trí rất lớn trong lịch sử tương lai của nghệ thuật Đông Dương”.

Năm 1934, xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế nghiên cứu và thực nghiệm về “sơn ta” ngày càng trở nên nghiêm túc và có triển vọng, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã “chính thức” mở xưởng kỹ thuật nghiên cứu “sơn ta”, đặt cơ sở cho sự hoàn thiện về mặt kỹ thuật và cho sự phát triển của tranh sơn mài. Bốn năm sau, 1938, trường đã được tổ chức lại (theo nghị định ký ngày 24/5/1938 của Toàn quyền Đông Dương) và lấy tên là Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật thực hành Đông Dương (l’Ecole supérieure des Beaux-Arts et des Arts appliqués de l’Indochine).

Theo đó, nhà trường có hai ban chính: ban hội họa, điêu khắc và sơn mài (section de peinture, sculpture et laque) và ban kiến trúc, đều thuộc ngành giáo dục đại học (l’enseignement supérieur).

Ba ban phụ thuộc về nghệ thuật thực hành: ban trần thiết (bậc 2), ban kim hoàn và chạm trổ (bậc1, nghề thủ công), ban gốm (bậc1) và cuối cùng là một lớp bổ túc (cours complémentaire) về hội họa và nghệ thuật trang trí. Thời kỳ này, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã thuộc quyền giám đốc của nhà điêu khắc évariste Jonchère (người chủ trương tăng cường giáo dục thủ công mỹ nghệ), sau cái chết của ông Victor Tardieu vào năm 1937. Như vậy là “sơn mài”, từ chỗ là một môn học thử nghiệm, đã trở thành một môn học cơ bản tương đương với hội họa và điêu khắc.

Nếu bức tranh sơn mài “Bờ ao” (bình phong, sáu tấm, mỗi tấm 110x25cm) của Trần Quang Trân, sáng tác vào năm 1932, có thể được xem như bằng chứng đầu tiên khẳng định đẳng cấp “hội họa” đích thực của thể loại sơn mài - thì lịch sử biên niên của hội họa sơn mài trước và sau thời điểm ra đời của tác phẩm ấy quả là những bước đi dồn dập.

Sơn mài - tuy xuất hiện có muộn hơn đôi chút so với tranh lụa và tranh khắc gỗ (là những chất liệu hội họa đã có nền tảng ở á Đông, tất nhiên) - nhưng có thể nói giấc mộng về một chất liệu hoàn toàn có tính dân tộc Việt Nam thì đã được các nghệ sĩ Việt Nam ấp ủ ngay từ ban đầu.

Trong sách “Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương”(3), họa sĩ Quang Phòng đã viết:

“...Sự kiện đặc biệt quan trọng ở thời kỳ đầu xây dựng nền hội họa hiện đại Việt Nam là sự xuất hiện tranh sơn mài. Từ kỹ thuật “sơn ta” cổ truyền đến kỹ thuật “sơn mài hiện đại” là cả một bước ngoặt lớn - đánh dấu kỷ nguyên về một chất liệu mới mang tính đặc thù dân tộc có khả năng áp dụng vào hội họa.”

Đồng quan điểm với học giả người Pháp Claude Mahoudot, họa sĩ Quang Phòng khẳng định:

“Người quan tâm đến vấn đề này (tức vấn đề chuyển hoá “sơn ta” vào hội họa - Q.V) sớm nhất là họa sĩ Joseph Inguimberty (1896 - 1971), bắt đầu ngay từ khi ông mới sang nhậm chức giảng viên môn trang trí Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, năm 1925.”

Và dưới đây là một câu chuyện đã được họa sĩ Quang Phòng viết lại trong cuốn sách (đã dẫn), theo lời kể trực tiếp của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn (1890 - 1973):

“...Nguyên một buổi được họa sĩ Nam Sơn hướng dẫn đi vẽ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Joseph Inguimberty đã thực sự sửng sốt, bàng hoàng trước các hoành phi, câu đối, đồ thờ sơn son thếp vàng lâu đời, lên nước thời gian, ngả sang các gam màu vô cùng phong phú và kỳ lạ, ở nhà đại bái. Ông đã đề xuất ngay ý kiến với hiệu trưởng Victor Tardieu để đưa sơn ta vào chương trình nghiên cứu và thực tập... Từ đó trở về sau, chất liệu sơn mài luôn luôn và bao giờ cũng là niềm kỳ vọng về sự sáng tạo một ngôn ngữ nghệ thuật riêng cho dân tộc của nhiều nghệ sĩ tài năng lớp trước...”

Sách “Lê Phổ”, với lời tựa nhan đề “Người họa sĩ tuyệt diệu” của Waldemar George, xuất bản tại Paris, 1970, trong phần niên biểu cho biết:

“1930. Ông tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, nhận những bản hợp đồng đầu tiên: những bình phong lớn bằng sơn ta và tranh trang trí cho Dinh Toàn quyền.

1931. Ông được Toàn quyền Đông Dương chỉ định làm phụ tá cho ông Victor Tardieu, Giám đốc nghệ thuật Toà Angkor tại triển lãm thuộc địa Paris. Thành viên ban giám khảo ngành mỹ nghệ do Jean Dunand(4) - một chuyên gia về đồ sơn phương Đông, người đã trang trí cho con tàu thủy chở khách Normandie bằng những tấm sơn nổi danh - làm chủ tịch...”

Với bức hoành sáu tấm “Phong cảnh Bắc Kỳ”, sáng tác vào khoảng 1929-1930 (sử dụng then, son, vàng và bạc ), in trong tập “Ba trường mỹ thuật Đông Dương”, nhân dịp Đấu xảo Paris 1931, có thể nói, Lê Phổ (1907-2002) là một trong số ít họa sĩ Việt Nam đầu tiên đặt chân trên con đường mới của chất liệu sơn ngàn năm cổ truyền của dân tộc.

Tuy nhiên, theo họa sĩ Hoàng Tích Chù, trong tập giáo trình về sơn mài(5): “...kết quả những bước đầu ấy vẫn chưa thoát được những hình thức trang trí cổ điển vì kỹ thuật chưa phát triển được, nên còn tình trạng đóng khung trong những phương pháp cũ trong việc làm sơn cũng như pha chế chất liệu và màu sắc.

Trong những thời kỳ ấy, mỗi màu sơn được sử dụng riêng cho những họa tiết, như núi thì màu đen, nhà cửa màu nâu, cây cối màu đỏ, trời thì thếp vàng... hòa sắc... chỉ vẻn vẹn có mấy màu đơn giản...

Từ màu nọ đến màu kia màu nào cũng đều sơn một nền màu nguyên vẹn, và mỗi màu sơn đều có cách biệt về mặt sơn cao thấp, nghĩa là trước khi bôi những màu sơn, trong lúc làm vóc phải can (in) bản họa tiết xuống và phải khắc những mảng màu cao thấp khác nhau của từng họa tiết...

... một số sinh viên tiếp tục nghiên cứu thực nghiệm đã phát triển thêm một bước nữa cho chất liệu sơn mài bằng cách áp dụng phương pháp gắn vỏ trứng rồi mài nhẵn trên những hình vẽ...

Nhưng vẫn phải còn chờ đợi một nghiên cứu tìm tòi mới nữa mới có thể đưa nền nghệ thuật sơn mài đến một trình độ nghệ thuật có khả năng diễn tả tình cảm, biểu hiện được hiện thực” .

Đến năm 1935, tại triển lãm SADEAI (la Société annamite d’Encouragement à l’Art et à l’Industrie/ Hội An Nam khuyến khích Mỹ thuật và Kỹ nghệ) lần thứ nhất, tổ chức ở Hà Nội, mùa xuân, có khoảng 200 bức sơn dầu, lụa, khắc gỗ, mực tàu trên giấy bản, nhưng chỉ có một bức bình phong “sơn” duy nhất của Lê Phổ, kỹ thuật và bút pháp vẫn hoàn toàn theo lối cũ.

Từ 1937, họa sĩ Lê Phổ sang Pháp định cư, và kể từ đó ông không còn có cơ hội để tiến xa hơn nữa trên con đường chinh phục chất liệu sơn mài - một công việc rất phù hợp với khả năng sáng tạo nghệ thuật toàn diện của ông.

Năm 1927, nghệ nhân Đinh Văn Thành (tức Phó Thành hay còn gọi là Thiềng, sinh năm 1898 - mất 1977) đã được mời vào làm việc tại xưởng nghiên cứu “sơn ta” (sơ khai) của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, bên cạnh Joseph Inguimberty - giáo sư phụ trách chuyên ngành trang trí.

“... Bác Thành kể lại cho tôi nghe cái việc tìm ra cách làm sơn mài - họa sĩ Lê Quốc Lộc đã ghi trong bài “Gặp gỡ nghệ nhân sơn mài cao tuổi Đinh Văn Thành”(6) - Từ năm 1932, lớp sinh viên mỹ thuật thường sử dụng sơn ta để vẽ bài trang trí. Các thứ sơn cánh gián, sơn cánh gián pha son, lúc đó đều có pha dầu trẩu, gọi là sơn quang dầu. Vẽ xong, sơn khô là được, chứ không mài để ra tranh. Cho nên mặt sơn có dầu thường bóng loáng, gợn nét vẽ, không phẳng nhẵn, mịn màng như sơn mài về sau.

Có lần anh Trần Văn Cẩn vẽ hình con phượng bằng sơn then, rồi phủ sơn son lên hình phượng, phủ bằng sơn không có dầu mà có nhựa thông (nhấn mạnh của Q.V): khi sơn khô bác Thành đem mài, hình phượng rõ ra, mặt tranh nhẵn phẳng. Sự tìm tòi ra cách làm này mở đầu cho kỹ thuật mài sơn, khiến người giáo sư Pháp (tức Joseph Inguimberty - Q.V) khi xem quá mừng rỡ, đem đập vỡ hết các chai đựng dầu pha sơn. Ông ta cho rằng đó là một khám phá quan trọng đối với nghề sơn.

Căn cứ vào cách làm mới như trên, các sinh viên mỹ thuật hồi đó bổ sung thêm cho kỹ thuật, như gắn vỏ trứng, đắp sơn nổi, hoặc chế ra cát bạc, cát vàng rắc chìm trong làn sơn còn ướt, cốt tạo ra thêm hòa sắc và các sắc độ khác nhau.

Không phải là việc giản đơn, sự xuất hiện một sáng kiến vốn có quá trình tìm tòi công phu. Từ thượng cổ chưa hề đem nhựa thông thay dầu trong sơn cánh gián, nhựa chỉ có trong sơn then(7). Sáng kiến đó đem lại một tác dụng rất tốt đẹp góp phần làm phong phú nền nghệ thuật của dân tộc sau này.

Bác Thành nhớ khá rõ, kể cho tôi nghe về các tác phẩm sơn không mài và có mài vào những năm 1932-1937 của các sinh viên vẽ sơn ta ngày trước: ông Nguyễn Đăng Bốn (đúng ra là Vũ Đăng Bốn - Q.V) vẽ sơn ta không mài trên bình phong, cảnh chùa Láng; ông Phạm Hữu Khánh vẽ sơn mài trên bình phong, cảnh đồng ruộng; ông Trần Quang Trân vẽ sơn mài trên bình phong một cảnh thôn Kim Liên có bụi tre bóng nước..., các ông Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang vẽ sơn mài trên các bình phong, cảnh ông nghè vinh quy,v.v.

Sơn mài Việt Nam ra mắt ở nước ngoài đầu tiên là tại hội chợ đấu xảo quốc tế ở Ba-Lê (Paris), thủ đô nước Pháp, vào năm 1937. Chính bác Thành là người có mặt tại hội chợ lớn này.

Lúc đó bác phó sơn Đinh Văn Thành, còn gọi là phó Thiềng, mặc áo the thâm, đội khăn gỗ, đi giày Gia Định. Con người cũ kỹ, chất phác như bác đã có những giờ phút bay bướm trổ tài thao diễn nghề sơn trước công chúng đến thăm hội chợ. Người dân Pháp thời ấy chỉ có thể hiểu việc đó là một thứ công nghệ ở một xứ thuộc địa xa xôi...”

Sự ra đời của chất liệu sơn mài đã diễn ra quả đúng như vậy, nhưng dưới đây là qua lời kể của họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910 - 1994), Triều Dương ghi(8):

“...Người Pháp, với sự thính nhạy, nên ngay khi mở Trường Mỹ thuật Đông Dương đã chủ trương mở khoa sơn, dạy cho sinh viên nghề làm đồ sơn mỹ nghệ.

Bác phó Thành, một người nắm được rất nhiều kỹ thuật nghề sơn được mời về trường. Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Quang Trân là những sinh viên đầu tiên trong nhóm nghiên cứu sơn ta. Cho dù có thay đổi lối vẽ, cách vẽ, bút pháp đắp nổi, khắc chìm, chuyển từ làm hộp, khay, hoành phi sang phong cảnh, nhưng mọi sự tìm tòi này vẫn chưa thể thoát ly lối trang trí mỹ nghệ và kỹ thuật làm sơn thì vẫn rút từ bác phó Thành.

Hồi đó Trần Văn Cẩn đang tập nghề sơn, mà bài làm đầu tiên là chiếc hộp chữ nhật rồi tới một tấm trang trí có họa tiết chép được từ một cỗ kiệu ở đền Lý Bát Đế. Ông thắc mắc với bác phó Thành tại sao sơn then và chỉ có sơn then mới mài được mà sơn đỏ thì vẫn cứ phải để nguyên. Người thợ già tìm mọi lời giải thích để khẳng định đó là chuyện của người trước để lại, làm khác đi sẽ hỏng. Nhưng Trần Văn Cẩn đã thuyết phục được bác Thành thử pha trộn sơn khác lối vẫn làm từ xưa. Hai người hì hục mà phải làm giấu giáo sư (tức Joseph Inguimberty - Q.V). Hai lần thử không kết quả, đến lần thứ ba, mới thành công. Với cách pha chế mới này (sơn pha nhựa thông - Q.V), ông đã có thể vẽ nhiều lớp chồng lên nhau, và mài đều tất cả mặt tranh, cả đỏ, cả đen đều được. Từ đó một số anh em khác như được khích lệ bởi kết quả của Trần Văn Cẩn, đã tìm thêm màu và thuật ngữ sơn mài ra đời” ...

QUANG VIỆT
1. Tạp chí “Indochine”, số 171, ngày 9/12/1943, nhân dịp “Salon Unique 1943” được tổ chức tại Hà Nội. Claude Mahoudot từng là giảng viên dạy trình bày chữ tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, thường viết báo với bút danh Cl.M.

2. Thực tế Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khai giảng khóa đầu tiên vào tháng 11-1925. Khóa này tốt nghiệp năm 1930 (QV).

3. Nhà xuất bản Mỹ thuật, Hà Nội, 1993.

4. Jean Dunand (1877-1942): là một nhà tư sản người Pháp. Ông đã cho lập một xưởng đồ sơn lớn mang tên ông và nổi tiếng với những sản phẩm lan tràn khắp thị trường châu Âu nửa đầu thế kỷ XX, chủ yếu là tranh trang trí và bình phong, do thợ Nhật Bản và Việt Nam thực hiện, theo hình thức trang trí châu Âu, đặc biệt có áp dụng kỹ thuật gắn vỏ trứng có thể đã học được theo phương pháp “khảm xà cừ” của các nghệ nhân làm đồ sơn Bắc Kỳ (QV).

5. Trên thực tế, ban đầu đây chỉ là một chuyên khảo nhan đề “Sơ lược lịch sử phát triển chất liệu sơn mài của các nước châu á và châu Âu” (1963). Sau họa sĩ Hoàng Tích Chù đã cộng tác với các họa sĩ Nguyễn Đức Nùng và Nguyễn Văn Tỵ mở rộng tài liệu này thành giáo trình về sơn mài để giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Bản tham khảo in trong cuốn “Một số vấn đề mỹ thuật”, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1985.

6. Báo “Văn nghệ”, số 23/605, ngày 7/6/1975.

7. Thực chất, sơn then có thể tạng gần với sơn cánh gián, bởi vì nó cùng là thứ sơn chín như sơn cánh gián, chỉ khác là được chế biến thông qua việc dùng thanh sắt non quấy vào sơn giọi - một thứ sơn sống tốt, liền trong vài ba ngày để ngả thành đen (Q.V).

8. “Trần Văn Cẩn”, tác giả Triều Dương, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1983.