Con chuột trên bia đá đền vua Đinh

Bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tằng tu điện miếu bia ký là chiếc bia đá có kích thước lớn nhất đền vua Đinh. Trong nhà bia đền vua Đinh hiện còn ba chiếc bia khắc vào ba thời điểm Hoằng Định thứ 9 (năm 1608), Chính Hòa thứ 17 (1696) và cuối cùng là bia Thiệu Trị thứ 3 (1843).

Bia không có rùa đội bia như chiếc bia khắc năm Hoằng Định thứ 9, và cũng không có hình lưỡng long chầu nhật trên trán bia. Trên đế chiếc bia hình hai con chuột khắc nổi đang quay đầu vào con cua nằm chính giữa. Không phải là lưỡng chuột chầu cua mà lộ rõ dáng vẻ rình rập của hai con chuột đồng béo núc đang chuẩn bị lao vào xơi tái chú cua. Phía khuất sau mặt trái của tấm bia, cũng dưới phần chân đế có hình một con rồng đang nằm dài thượt, ẩn mình trong bóng tối buồn bã (minh họa). Những con chuột con cua đá đen bóng, két bùn đất thực đến nỗi có thể lầm tưởng như mới vừa lội từ bùn lên. Cũng tưởng như tấm bia vừa khắc chữ xong đem đặt ngoài ruộng, thoắt một cái đám cua, chuột, tôm cá đã chui vào hóa đá để sống một kiếp sống thường hằng của nghệ thuật.

Con chuột trên bia đá đền vua Đinh
Con chuột trên bia đá đền vua Đinh

Nhìn cao hơn một chút, ở hai bên diềm bia phía dưới là gia đình nhà khỉ đang âu yếm nhau. Tôi dám chắc đó là hình ảnh về một gia đình nhà khỉ thuộc loại đẹp nhất trong nghệ thuật chạm khắc của người Việt. Trán bia là đôi phượng đục thô tới mức nếu không nhìn kỹ vào phần đuôi ta lầm tưởng là một con ngỗng! Đúng là rồng chẳng đáng mặt rồng, phượng không ra dáng phượng. Nhưng đó là sự cố ý, vì tới cuối thế kỷ 17, những đồ án rồng phượng đã chín nẫu rồi, và hơn nữa, ở quần thể khu di tích đền vua Đinh vua Lê có 3 tấm bia đá làm thời Hoằng Định có những hình rồng khá uy phong và được khắc chạm rất chuẩn mực. Rồi đến những cặp rồng đá chầu hai bên sập đá cũng rất uy nghi. Vậy đồ án cua chuột ở đây có ẩn ý gì? Những bối cảnh lịch sử nào đã thôi thúc người xưa tạc lên đây những câu chuyện hóm hỉnh đến vậy ?

Chiếc bia khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) là do một tiến sỹ họ Nguyễn, từng giữ chức Hàn lâm đã về hưu soạn. Người viết chữ Hán là Truy lưu Trần Đạo, Từ tế chân nhân trụ trì chùa Kim Cương (Kim Cuơng là ngôi chùa cổ đá mất chỉ còn dấu tích trên núi Thiên Long, Hoa Lư, Ninh Bình). Một ông quan đã về hưu, một vị nhân sĩ đã xuất gia soạn và viết ra cho phỏng đoán việc trùng tu thời Chính Hòa này là tâm nguyện của dân xã Trường Yên hơn là do sự thôi thúc của vương triều. Mặt sau của tấm bia Chính Hòa cũng ghi danh tính của người thợ đá tài hoa, tên là Lê Nhân Phú quê ở xã An Hoạch, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Đúng là tam tuyệt chi tài. Lời văn hay có người viết chữ đẹp lại được bàn tay người thợ khắc tài hoa. Trong quần thể di tích đền vua Đinh vua Lê thì đây là chiếc bia đầu tiên ghi đầy đủ danh tính cả người soạn bia, viết chữ và khắc bia. Chiếc bia Trùng tu tạo tác thánh tượng Lê Đại Hành hoàng đế bi ký tịnh minh có ghi tượng làm tại Thạch Thành, Thanh Hóa nhưng không ghi rõ tên tuổi người làm. Thời thế đã có những đổi thay. Chính giữa diềm bia phía dưới có khắc hình cá hóa rồng. Đồ án cá hóa rồng dù ở Trung Quốc hay Việt Nam cũng mang âm hưởng dân gian. Một ước mơ ngày kia được thành thiên tử của những người dân quê đã âm thầm len lỏi vào rất nhiều các đồ án chạm khắc từ đình làng cho đến đền miếu. Ước mơ này có gì là quá xa vời, khi mà dòng dõi chúa Trịnh cũng chỉ là anh trai cày thủa hàn vi còn phải đi ăn trộm gà hàng xóm. Con chuột dẫu tả rất hiện thực nhưng trong ngữ cảnh của tổng thể đồ án đã dẫn dắt chúng ta tới những liên tưởng về cuộc tranh chấp quyền lực khốc liệt suốt thế kỷ 17 của hai dòng họ Trịnh – Nguyễn dẫn đến 7 cuộc nội chiến. Tuy mang danh một lòng thờ phụng vua Lê, nhưng các ông vua bị vô hiệu hóa trở thành một thứ bù nhìn. Bia được khắc vào thời Chính Hòa (1681-1705) mà theo sử viết là thời đại yên bình thịnh trị nhất của thời đại Lê Trung. Hưng chính vì hai thế lực Trịnh Nguyễn sau bẩy lần chinh chiến bất phân thắng bại (từ sau năm 1672) đã tạm hòa hoãn lấy sông Gianh làm giới tuyến. Còn dư đảng cuối cùng của nhà Mạc tới năm 1688 cũng đã bị dẹp bỏ.

Sự hiện diện của con chuột trên bia đá ở đền vua Đinh là chuyện hi hữu trong lịch sử nghệ thuật tạc bia người Việt. Nhưng đặt trong dòng chảy của nghệ thuật, giai đoạn thời Chính Hòa, chúng ta thấy nó giống như những dòng nước khi chạm vào những mạch đá ngầm bất chợt tung bọt lên trắng xóa. Một cảnh tượng phá bỏ sự âm thầm tẻ nhạt của dòng chảy lịch sử nghệ thuật. Cách đền vua Đinh không xa, trên lối vào khu di tích ở ngã ba Thiên Tôn, tôi và họa sỹ Đức Hòa đã phát hiện ra một chiếc bia đá vào niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700) có khắc hình một cô gái khỏa thân đứng dưới cành hoa. Lịch sử nghệ thuật Việt Nam có những ví dụ mẫu mực về sức sống của những cảm hứng dân gian, được ươm trồng từ mảnh đất văn hóa làng xã. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung từng đánh giá cao sự bừng tỉnh của nghệ thuật dân gian thời chúa Trịnh Căn (cũng là thời vua Lê Hy Tông) như là sự tiếp nối cuối cùng của nghệ thuật nhà Mạc.

www.vietnamfineart.com.vn

KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY SINH NHẠC SĨ, HỌA SĨ, THI SĨ VĂN CAO (1923 – 2013): CÓ MỘT HỌA SĨ TÀI BA, VĂN CAO

Văn Cao nổi tiếng với nhiều bài hát từ trước Cách mạng Tháng 8, đặc biệt là bài hát “Tiến Quân ca“, sau này được chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhiều bài hát trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau thời kỳ thống nhất đất nước đã đưa ông vào vị trí một nhạc sĩ hàng đầu tài danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, Nghệ thuật đợt I (1996 – ngành Âm nhạc). Văn Cao cũng là một nhà thơ với nhiều tác phẩm đi vào lòng người.

Xem thêm:

Chân dung Văn Cao tự họa
Chân dung Văn Cao tự họa

Nhạc và thơ của ông hình như đã làm cho nhiều người quên ông là một hoạ sĩ với nhiều tác phẩm xuất sắc. Được biết, trước Cách mạng Tháng Tám ông cũng đã theo học “bàng thính” tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương một thời gian ngắn, nhưng rồi với làn sóng cách mạng sôi sục, ông đã sáng tác nhiều bản nhạc mang hơi thở của thời đại. Âm nhạc và thơ ca đã cuốn hút ông và đã đưa ông đến vị trí là một nhạc sĩ hàng đầu của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Vì không am hiểu nhiều về âm nhạc và thơ ca nên tôi không dám “bình” nhiều về hai lĩnh vực này của ông.

Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm
Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Trần Khánh Chương phát biểu tại Lễ kỷ niệm

Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc tới một Văn Cao hoạ sĩ mà những đóng góp của ông cho nghệ thuật hội hoạ Việt Nam rất đáng trân trọng và ghi nhận. Về sáng tác Mỹ thuật, khi ở tuổi 20, ông đã có những sáng tác dự triển lãm Duy nhất, 1943 với phong cách lập thể, được biết đến như một hoạ sĩ tiên phong với các tác phẩm: Cô gái dậy thì, Sám hối, Nửa đêm, Cuộc khiêu vũ. Những năm sau, ông tiếp tục sáng tác các tác phẩm sơn dầu mà đến nay người ta còn nhớ tới như: Thái Hà ấp đêm mưa, chất liệu bột màu, năm 1943, nghĩa là đã cách đây 70 năm. Ngoài ra người ta còn nhớ tới một tác phẩm sơn dầu khác sáng tác sau đó một năm, năm 1944, đó là tác phẩm Sám hối nửa đêm, rồi sau đó là bức Ngõ Nguyễn Du, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám, Văn Cao là phóng viên tham gia trình bày “Báo Lao động” thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lên chiến khu Việt Bắc và tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời kỳ này, Văn Cao nổi tiếng với âm nhạc. Trong điều kiện thiếu thốn hoạ phẩm nên với hội hoạ, ông có phần xao nhãng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ tới một số tác phẩm của ông sáng tác trong thời kỳ này, thể hiện tình cảm của ông đối với cuộc kháng chiến chống Pháp như tác phẩm Cây đàn đỏ, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1949; Lớn lên trong kháng chiến, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 1952.

Thiếu nữ hái chè - Văn Cao
Thiếu nữ hái chè – Văn Cao

Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, Văn Cao đã có nhiều đóng góp cho nghệ thuật tạo hình. Giới văn nghệ Việt Nam, trong đó có Mỹ thuật không thể quên những minh hoạ của Văn Cao trên các báo Văn, Văn Nghệ… với một bút pháp riêng, sử dụng nhiều nét thẳng và đơn giản và có chữ ký là “VĂN” rất đơn giản nhưng giới Mỹ thuật ai cũng biết đó là minh hoạ của Văn Cao. Cũng trong thời kỳ này, ông làm nhiều bìa sách, và cũng tạo được một phong cách riêng rất Văn Cao. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sau ngày thống nhất đất nước, Văn Cao không chỉ có minh hoạ làm bìa mà còn vẽ nhiều tranh sơn dầu có giá trị nghệ thuật cao. Mọi người đều không thể quên bức tranh sơn dầu có giá trị đuợc trưng bày trong các Triển lãm và lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Chân dung bà Băng, Chân dung nhà văn Đặng Thai Mai, Cô gái và đàn dương cầm, Dân công miền núi… với bố cục chặt chẽ, bút pháp hiện đại, sử dụng kết hợp giữ đường nét và những mảng màu lớn. Các bức tranh này đều thẫm đẫm tình cảm của người hoạ sĩ tài hoa…

Những tác phẩm cho ta thấy bên cạnh là một nhạc sĩ hàng đầu, một nhà thơ nổi danh, ông còn là một hoạ sĩ tài năng thuộc thế hệ đầu xây dựng nền Mỹ thuật hiện đại và cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam mà còn là hội viên lâu năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Tôi còn nhớ, trong một lần Nhà xuất bản Mỹ thuật giới thiệu cuốn sách Các hoạ sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương của hoạ sĩ Quang Phòng, nhiều tác giả thuộc thế hệ của ông đã có mặt cùng vui chung với cuốn sách này. Văn Cao cùng với vợ ông cũng đã đến dự, tôi đã xin được chữ ký của ông cùng các hoạ sĩ thế hệ Mỹ thuật Đông Dương vào dưới các tác phẩm in trong cuốn sách và có dịp để chuyện trò với ông… Tôi cũng không lý giải được vì sao một số hoạ sĩ có tên tuổi của Việt Nam như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Nguyễn Đức Toàn… trước cách mạng đều đã từng học “bàng thính” trường Mỹ thuật Đông Dương một thời sau này đều trở thành những nhạc sĩ tên tuổi của ngành âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, Hải Phòng. Nguyên quán tại thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông nhiều năm sống và làm việc tại Hà Nội và mất ngày 10 tháng 7 năm 1995 tại Hà Nội.

Xem chi tiết về Văn Cao tại đây

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhạc sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ Văn Cao, Hội Mỹ thuật Việt Nam và giới Mỹ thuật Việt Nam luôn nhớ đến ông, một hoạ sĩ tài hoa có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Trần Khánh Chương

Cuộc diễu hành của những hồn ma tại Artpark-Manfred Kielnhofer

Công viên nghệ thuật giới thiệu triển lãm Ghost Parade in the Artpark (Cuộc diễu hành của những hồn ma trong Công viên Nghệ thuật). Điều này nhắc đến những người đi dạo loanh quanh như những hồn ma tại Linz, giống như câu nói viết tại gallery Công viên Nghệ thuật: Con người vẫn luôn đi tìm sự phù du. Mười lăm tác phẩm điêu khắc đã được thực hiện bởi nghệ sĩ Manfred Kielnhofer và được sơn màu từng phần. Tất cả quay quanh phạm vi Nghệ thuật – Khoa học – Tín ngưỡng.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Manfred Kielnhofer tuyên bố: “Điểm tập trung trong nghệ thuật của tôi là những điều khác thường ở con người. Là một nghệ sĩ, dáng hình và chuyển động tự nhiên của những tư thế dáng người đặt ra cho tôi một thử thách đáng để đối mặt. Những góc nhìn và phối cảnh không gian khác nhau là điều tôi cố gắng nắm bắt và thể hiện trên tác phẩm của tôi, nhìn thấy dấu ấn của riêng mình trên nó. Tác phẩm gần nhất của tôi thực hiện theo phong cách trừu tượng, bề ngoài quét những mảng màu qua đó tôi biểu đạt được một khoảng cách nào đó đến tác phẩm. Mỗi một bức họa của tôi đều riêng biệt trong cách thể hiện lẫn tính chất”. (AD)

Cổ ngọc trang sức – Ngọc tỷ Việt Nam 5000 năm

Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. Kinh Dương Vương làm vua phương Nam năm 2879 TCN, xã hội thời đó là có văn hóa, điển chương, tôn ti trật tự và định chế xã hội. Con Lạc Long quân là Hùng Vương, mẹ là Âu Cơ, con gái Đế Lai. Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu Văn Lang. Thời đại Hùng Vương nước Văn Lang (xăm hình) Âu Lạc, Nam Việt xuất hiện hàng ngàn năm TCN, có đỉnh cao văn hóa đồ đồng thau, đồ sắt, cùng với sự phát triển nhiều đồ trang sức bằng vàng, ngọc, phục vụ yêu cầu làm đẹp cho tầng lớp quí tộc. Nhiều công xưởng chế tác ngọc tinh xảo còn lại dấu tích đến ngày nay. Con người đã biết đến đồ ngọc khoảng 7000 năm. Người Ai Cập cổ đại quan niệm linh thiêng, ngọc là máu của rồng. Văn minh cổ đại châu á coi ngọc là một trong tứ đại quý. Sự quí hiếm của ngọc là biểu tượng cao quý, giàu sang, sự trường tồn, hưng thịnh. Ngọc có màu sắc biến ảo, rực rỡ, trong sáng, hình dạng thay đổi lung linh, cứng rắn, mang lại phúc lành, tượng trưng cho quyền lực đế vương (ngọc tỷ). Người Việt cổ đại đã biết và sử dụng đồ ngọc trong đời sống xã hội. Văn hóa Phùng Nguyên còn lưu lại pho tượng nam bằng ngọc xanh, xám trong cao 3,6cm cách đây khoảng 4000 – 3500 BP; một lưỡi bôn tứ giác ngọc, màu vàng ngà dài 3,1cm x 1,2cm ở Phú Thọ, những hạt chuỗi ngọc thời Phùng Nguyên. Tiếp sau là lưỡi đục bằng ngọc màu vàng xám 5cm x 5cm vòng tay, khuyên tai Đồng Đậu, nhiều loại hình trang sức hạt chuỗi hình đốt trúc, hình cầu, hình ống, hoa tai 4 cạnh khoét lõm (hình vuông), vòng tay. Đến văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Giồng Cá Vồ… có các loại khuyên tai 2 đầu thú bằng ngọc xám, bích ngọc vô cùng phong phú, đa dạng không thể kể hết. Trên đất nước Việt Nam có nhiều công xưởng chế tác ngọc, khoảng hơn 22 công xưởng lớn từ Bắc vào Nam. ở Phú Thọ công xưởng ngọc Hồng Đà rất lớn, có vị trí thuận lợi tại ngã ba sông Hồng, sông Đà, nối liền với Vân Nam (Điền Việt) gắn liền với nước Myanmar là nơi sản xuất đồ ngọc nổi tiếng thế giới. Myanmar có những mỏ đá quý Jasper, Nephrite lộ thiên thuộc phía Bắc nước này. Tôi đã đến thăm nhiều tượng Phật ngọc cao ngót 10m là nguyên một khối ngọc ở Myanmar. Ngọc Myanmar đã đưa đi khắp thế giới trong đó có con đường qua Việt Nam là công xưởng Hồng Đà, công xưởng chế tác ngọc ở đồng bằng Việt Nam. Bãi Tự, thuộc làng Tiên Thượng, sông Tương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, rộng khoảng 1 vạn mét vuông, gần sông Tiêu Tương, nằm trên 1 gò đất thấp, gần chùa Phật Tích. Nơi đây trước kia sản xuất nhiều đồ trang sức bằng ngọc, hiện còn tìm thấy nhiều chế tác dang dở. Xuôi về phía hạ lưu là công xưởng Tràng Kinh, nằm trên núi Hoàng Tôn và núi Ao Non thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xưa kia nằm kề biển Đông là công xưởng ngọc lớn nhất nước ta. Tại đây đã tìm thấy ngọc Jasper và Nephirte sản xuất các loại vòng tay, hạt chuỗi, nhẫn,v.v. Khu vực miền trung tập trung ở vùng sông Mã, sông Chu, miền nam các xưởng ngọc ở sông Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với nhều đồ ngọc chế tác tinh xảo.

Cổ ngọc trang sức Việt Nam
Cổ ngọc trang sức Việt Nam

Thẻ ngọc thời An Dương Vương Âu Lạc

Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” đã tìm được ở Quảng Châu là đất Giao Châu thời cổ. Năm Ngô Hoàng Vũ thứ 6 (227), vua Ngô nghe tin Sĩ Nhiếp mất, mới chia Hợp Phố trở về bắc thuộc Quảng Châu, quận Hợp Phố trở về Nam thuộc Giao Châu, đặt Quảng Châu phụ thuộc vào nhà Tấn (Đại Việt sử ký toàn thư T1/165/168). Theo nhà nghiên cứu “sở giản” Dư Duy Cương ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam: “Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” có hình dạng gần chữ nhật, bốn góc thẻ khắc bốn chữ An Dương hành bảo, khổ chữ to hơn khổ chữ phía trong mặt thẻ gồm 124 chữ lối cổ trựu. Bản khắc toàn văn sáu mươi (Giáp Tý), (60 chữ can chi). Xung quanh trang trí khắc đường vằn sóng lượn. Do bị chôn lâu ngày dưới đất nên màu vàng hơi hung hung đỏ. Mặt trái thẻ trang trí đường cong hình móc câu. Nét chạm trên “An Dương ngọc giản” thô. Ông đã phân tích “Ngọc bảo An Dương này là của An Dương cổ đại Việt Nam. An Dương hành bảo có lỗ đeo, đây là loại ngọc phiến người xưa đeo là bật báu hộ thân, trừ tà để được an lành”. Ngọc giản này đào được ở phía Đông Nam cách thành phố Quảng Châu 18km ở trên hạ lưu sông Việt – Giang do một nông dân khi cuốc đất đào được ở sườn núi năm 1932. Những ngọc giản đào được ở Quảng Châu khoảng 200 thẻ, trong đó có thẻ ngọc khắc chữ An Dương là của nước Việt. Khi Nam Việt đánh bại Âu Lạc, các báu vật của Âu Lạc là chiến lợi phẩm nên mới đào được ở Quảng Châu. Theo Thủy kinh chú dẫn sách Giao Quảng Xuân Thu của Vương Thị: vua Việt là Triệu Đà; khi chết được chôn trong ngôi mộ hiểm hóc thần bí. Việc chôn cất của Triệu Đà là nhân hình thế núi làm lăng mộ. Phần mộ của Đà khá xa hoa và lớn, chôn chứa nhiều đồ quý. Thời Ngô, vua Tôn Quyền đã sai người tìm mộ Triệu Đà, đào núi phá đá, kết cục không tìm được gì. Đà tuy xa xỉ tiếm lạm nhưng vẫn giữ được yên thân, khiến người đời sau không biết chôn ở chỗ nào…”

Như vậy việc phát hiện ngọc giản là chiến lợi phẩm đem tuẫn táng ta có thể thấy ở một số nơi đào được như là mộ giả của Triệu Đà (theo thuyết nghi chủng). Tập tục chôn theo các vật quí báu như ngọc giản chôn theo người chết có khoảng từ đời nhà Thương. Sách Thất quốc khảo đời Minh dẫn sách Mặc trang mạn lục của Trương Bang Cơ đầu thế kỷ XII (1131) đời Tống viết: “Khoảng năm Chính Hòa triều Tống Huy Tông (1111 – 1118) triều đình tìm kiếm các đỉnh, di đời tam đại… sai quân phá mộ Tỷ Can ở phủ Phượng Tường, tìm được mâm đồng đường kính hơn hai thước, có khắc 16 chữ, lại bắt được 43 phiến ngọc mỗi phiến dài hơn 3 tấc, trên tròn mà nhọn, dưới rộng mà vuông, sắc ngọc trong sáng. Đó đều là những vật rất lạ trong những đồ chôn theo”. Theo lời tả thì hình dạng lớn bé các vật đó giống như “An Dương ngọc giản” ta mới tìm thấy, chỉ có khác là đảo ngược phía trên xuống dưới và không có văn tự mà thôi”.

Những ước đoán của Dư Duy Cương năm 1956 được chứng minh 24 năm sau, tại Quảng Châu đã phát hiện ra mộ của cháu Triệu Đà là Văn đế Triệu Muội tháng 8 năm 1980, con thái tử Trọng Thủy. Báo cáo khảo cổ do Mạch Anh Hào giám đốc danh dự của viện bảo tàng Quảng Châu trong bài tường trình tại Hội nghị khảo cổ Đông á tháng 3 năm 1986 tại Hội nghị sảnh Đại học Hồng Kông. Trước đây Tôn Quyền đã sai tướng Lã Du tìm mộ Võ Đế Triệu Đà nhưng không tìm được, sau đó đã tìm mộ của Minh Đế Anh Tề, là con của Văn Đế Triệu Muội, chắt của Võ Đế Triệu Đà, lấy được rất nhiều bảo vật trong đó cũng có nhiều đồ ngọc. Theo lời truyền ngôn mộ của Triệu Đà đã được di về Việt Nam khu vực gần chùa Thầy thuộc Hà Nội ngày nay. Vùng này cũng là nơi tể tướng Lữ Gia đánh nhau bị thua quân Hán do Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức chỉ huy. Nước ta bị Hán xâm lược từ đó, năm Tân Mùi (110 TCN).

Những đồ ngọc ở lăng Văn Đế Triệu Muội – Nam Việt

Lăng mộ Triệu Muội được tình cờ phát hiện ra sau 2200 năm là một dấu ấn lịch sử to lớn, có nhiều giá trị về văn hóa, mỹ thuật, nhạc khí, trang sức, trang phục, chứng minh bằng vật chất cụ thể nền văn minh Việt Nam. Trong lăng mộ có nhiều đồ dùng sinh hoạt, gấm vóc, ngọc ngà, gốm sứ, trống đồng, thạp đồng của thời Hùng vương nước Văn Lang và An Dương nước Âu Lạc. Riêng về đồ ngọc, có một khối lượng rất lớn, chạm khắc tinh xảo khoảng hơn 200 món ngọc khí. Đầu tiên phải kể đến bộ quần áo, giầy bằng ngọc để liệm cho Văn Đế, được liên kết bằng 2291 miếng ngọc khâu bằng chỉ tơ đỏ, viền gấm đỏ (ti y ngọc lũ) đã được chế tác tại các công xưởng ngọc ở Việt Nam. Ngoài hàng chục ấn vàng, mộ Văn Đế còn 9 ấn ngọc trong đó có ba ấn đề chữ: Đế ấn, Triệu Muội, Thái tử được đặt bên thi hài Văn đế.

Đế ấn Triệu Muội là một khối ngọc mầu trắng ngả vàng, xung quanh thành ấn trang trí đường triện, trên núm ấn tạc hình linh phù tượng hổ há miệng nhe nanh, giương móng vuốt dữ dội. Ta có thể so sánh với một ấn ngọc thời Lê Trịnh thế kỷ XVI, XVII là một khối ngọc màu xanh xám cao 6,7cm x 7,3cm, là ấn Vạn thọ vô cương, trên núm có hình linh thú tượng hổ tương tự cách nhau khoảng 1800 năm về tỷ ấn bằng ngọc Việt Nam. Đồ bích ngọc gồm 56 món được chế tác vô cùng tinh xảo, mỹ thuật, chạm khắc cầu kỳ hình rồng trong các bích ngọc tròn. Một đại bích ngọc (nha chương) có đường kính lớn 33,4cm được mệnh danh là vua của các loại bích ngọc. Một hộp ngọc hình trụ cao 77cm chạm hình 2 con phượng và các hình trang trí phù điêu chau chuốt có ánh màu vàng trong khối viên trụ màu xanh. Nhiều đai đeo thắt lưng để móc đeo kiếm bằng ngọc nhiều màu dài 18,4cm hình hơi cong được chế tác cho Văn Đế đeo kiếm, đeo tỷ ấn, đeo túi hương liệu, chạm khắc hình rồng, hình rùa, rắn, nhạn rất sinh động. Những đai lưng bằng ngọc này còn có thể thấy trong đồ ngọc của triều Nguyễn lưu giữ được của Việt Nam có trang trí hoa văn khắc chìm, nổi bằng ngọc trắng, trắng ngà từ thế kỷ I đến thế kỷ III dài 8,5cm x 2,1cm có hình dáng tương tự ở mộ Văn Đế nhưng ngắn hơn nhiều. Đồ ngọc còn chiếc ngọc giác bôi (chén uống rượu) hình sừng tê là đồ đặc biệt, có một không hai của Nam Việt. Nhiều đồ trang sức ngọc đeo cổ hình vũ nữ, màu vàng dáng múa sinh động. Một âu ngọc màu vàng đồng trong mờ hình tròn, trông nghiêng hình ô van, cao 7,7cm, đường kính 9,8cm, đỉnh nắp có khuyên vòng tròn chạm hoa văn vặn thừng kiểu Đông Sơn, chui qua núm nắp, chứng tỏ khi chế tác từ một khối ngọc đã khéo léo tách ra chui lồng vào nhau vô cùng tinh tế của thợ ngọc Việt Nam hơn hai ngàn năm trước. Ngoài ra còn có một tượng ngọc màu vàng trang phục gấm hoa sen, tay rộng đang múa, tóc chải xẻ ngôi giữa buông ra phía sau, rất điển hình thiếu nữ Việt. Trong mộ còn có gối ngọc trai. Một hộp đựng hàng ngàn viên ngọc trai kích thước lớn từ 1 đến 3cm. Thời Lý nước ta cũng đã phải nộp cống phẩm nhiều loại ngọc to bằng quả mận, quả đào sang triều Tống. Thời Mã Viện nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh đã sang vơ vét đồ vàng, ngọc, ngà voi của nước ta rất nhiều, mang về Trung Hoa. Nhân đây, xin dẫn một câu chuyện cướp ngọc của nước ta là viên bại tướng nhà Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị, đã chạy trốn khỏi Thăng Long khi bị vua Quang Trung tiến ra bắc năm 1789. Sách Thanh Cung mười ba triều Việt: “có một hôm Hòa Khôn đi vào cung chầu sớm, thấy viên đại thần Tôn Sỹ Nghị tước Văn Tỉnh Công đã đến triều phòng ngồi đợi từ trước. Nhân lúc chờ đợi chẳng có chuyện gì để giết thời gian, Nghị bèn lấy chiếc tỵ yên hồ (lọ hình tỳ bà) trong bọc ra ngắm chơi. Hòa Khôn thấy vậy, chạy tới xem thì ra chiếc tỵ yên hồ này là một khối trân châu lớn vừa bằng quả trứng gà, chạm trổ rất mỹ lệ. Khôn thích quá, liền giơ tay ra muốn cầm lấy. Nghị hoảng lên vội nói: “Ngọc này nhân tôi đi đánh Đại Việt nên cướp được đó, hôm qua tôi đã tâu rõ với Hoàng đế (Càn Long) là hôm nay đem hiếu kính ngài, quyết không thể nào cho đại nhân được đâu.

Khôn thấy Nghị có vẻ hoảng sợ quá sá, bèn cười nói: Tôi có ý đùa đại nhân đấy thôi, chứ đâu muốn lấy mà đại nhân sợ?. Cách ba hôm sau, Tôn Sỹ Nghị lại vào chầu, ngồi đợi tại triều phòng và gặp Hòa Khôn. Khôn đưa tay vào trong bọc rút ra một chiếc tỵ yên hồ, đưa cho Nghị xem và nói:

– Đại nhân xem! Tôi cũng có một chiếc tỵ yên hồ đây này.

Nghị cầm xem, thì ra là chiếc ngọc tỵ yên hồ này là đồ Nghị đã dâng cho hoàng đế Càn Long. Nghị hỏi Khôn:

– Đại nhân lấy đâu ra vậy?

– Lấy của hoàng thượng chứ còn lấy ở đâu nữa! – Khôn nói”

Đó là câu chuyện thật, đã xảy ra trong nội cung triều Thanh Càn Long về khối ngọc mà Tôn Sỹ Nghị cướp ở nước ta được Hứa Tiếu Thiên viết trong sách đã dẫn (TCBT/Tc/trang 260, 261).

Đồ ngọc ở nước ta đã được sử dụng nhiều trong tầng lớp quý tộc, trong cung đình, ngọc gắn trên mũ ô sa, các xâu ngọc gắn trên mũ bình thiên, các quan vào hầu chúa Trịnh mặc áo thanh cát đều thắt dây theo kép xâu ngọc.

Trong những món đồ ngọc của vương triều Nguyễn thuộc bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ đồ ngọc Việt từ thế kỷ I đến thế kỷ III tượng cá ngọc mầu xanh xám, cá ngọc màu trắng ngà xanh, nghiên mực ngọc trắng xám dài 9,1cm rộng 6,9cm, tượng thú ngọc màu vàng cam ngả xám, ngọc trắng xám trang trí, hình thú màu trắng hồng, tượng ve sầu ngọc mầu ngà dài 7,4cm rộng 1,8cm, tượng ve sầu mầu nâu xám dài 3,5cm rộng 1,5cm, tượng ngọc màu trắng ngà dài 2,6cm, rộng 1,7cm hình ve sầu… rất nhiều đều ở thời gian đầu công nguyên từ thế kỷ I đến thế kỷ III.

Những đồ ngọc triều Nguyễn

Đồ ngọc triều Nguyễn qua thời gian biến động lịch sử đã bị thất thoát nhiều ra nước ngoài. Tuy nhiên bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ được một số đồ ngọc quí giá, đại diện cho diện mạo đồ ngọc của nhà vua Nguyễn trong hai thế kỷ XIX, XX là các ngọc tỉ, ấn kiếm, đồ thờ, đồ sinh hoạt vui chơi bằng ngọc. ấn ngọc Đại Nam hoàng đế chi tỷ (Thiệu Trị) 1844, ấn Đại Nam thụ thiên vinh mệnh truyền quốc tỷ, là một khối ngọc trắng cao 14,5cm, hình gần vuông 13cm x 12 x 4,3cm thành ấn 3 tầng đế ấn. Núm ấn hình rồng cuộn, đầu rồng cao nổi hoành tráng trên đế ấn (Thiệu Trị). ấn Đại nam Thiên tử chi tỷ bằng ngọc xám xanh cao 10,5cm dài 12,4cm x 5,2cm những tỷ ấn này đều được tạo tác mỹ thuật tinh xảo, chau chuốt sáng trong lung linh hiếm có. ấn Thiện Đức, ấn Y nhân bằng ngọc trắng tạo hình như hình chiếc lá chạm khắc chau chuốt. ấn Nhật tân, Hựu tân ngọc trắng núm ấn rồng khoanh tròn đầu rồng nhô cao nhe nanh vuốt. ấn Nghi biểu Vạn tôn ngọc trắng cao 5,3cm, vuông 3,3cm hình sư tử trắng đang chầu. ấn Khải Định Hoàng đế chi tỷ làm năm Bính Thìn 1916 bằng ngọc trắng, chạm khắc đầu rồng lớn ẩn trong mây hình kim tự tháp. ấn Tự Đức thân hân cao 4,7cm chạm tượng đầu, đuôi rồng nổi gồ cao trong mây trên một khối ngọc vuông cao 4,7cm. ấn Tự Đức Thần Khuê hình ô van là một khối ngọc trắng cao 4,2cm, dài 4,4cm, rộng 2,3cm, tạc tượng rồng uốn lượn đầu vươn cao hai tay vuốt râu kiểu tương tự rồng ở điện Kính thiên… Điểm qua các đồ ngọc khác còn có đôi song kiếm âm dương bằng ngọc trắng và nạm vàng, một thanh dài 80 và một thanh dài 90cm đốc kiếm và chuôi kiểu tây phương. Chuôi gươm bằng ngọc trắng nạm vàng, lưỡi gươm cong kiểu gươm Nam á. Một chuôi kiếm ngọc màu xà cừ nâu đỏ nạm vàng, thanh kiếm thẳng. Đôi đai thờ bằng ngọc trắng, khảm vàng cao 21cm đường kính 16cm đính ngọc nhiều màu: lam ngọc, hồng ngọc, núm đài thờ hình quả chuông trên là bầu hồ lô, tạo dáng nhiều tầng, thắt hồ lô vòng quanh đài là chữ triện lớn, tạo dáng uyển nhã mỹ lệ. Các thẻ ngọc như ý nhiều loại bằng ngọc trắng, bức chạm ngọc Ngự diên Văn bảo bằng ngọc trắng xám, cao 28,6cm rộng 17,8cm hình lưỡng long triều nhật, chạm bong hai mặt bằng ngọc trắng xám, trang trí hoa mỹ, bố cục mỹ lệ thanh nhã, cao quý, trong sáng, mát mắt, mát tay. Đồ nghiên ngọc cũng có rất nhiều kiểu dáng: nghiên mực hình lá sen dài 19cm rộng 13cm ngọc xanh xám nâu có gân lá sinh động, viền mép uốn cong vào rất tự nhiên, đẹp. Nghiên mực hình trái táo, nghiên mực hình ô van ngọc trắng xám, nghiên mực hình chiếc lá, nghiên mực ngọc trắng xám bọc kim loại, nghiên mực ngọc trắng, chạm hoa lá, nghiên mực khắc thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đồ ngọc triều Nguyễn còn các loại thẻ bài như ngự tiền sắc mệnh triều vua Thiệu Trị, Thiệu Trị vạn tuế. Thẻ bài cho các quan đều bằng ngọc trắng. Ngoài ra các loại lọ, bình, đỉnh ngọc chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo, đường nét chạm có truyền thống giống chế tác ngọc thời cổ đại Nam Việt. Một số âu bình, ấm chén uống chè bằng ngọc trắng có xu hướng hiện đại, kiểu cách giao thoa với phương tây không thể kể hết. Đặc biệt một số đồ ngọc đặc trưng Việt Nam như cối, chầy giã trầu bằng ngọc, điếu bát bằng ngọc xanh hồ thủy, đôi sáo bằng ngọc trắng, quản bút, gang kính bằng ngọc, các chậu (quán tẩy) rửa tay bằng ngọc trắng, vành chậu nạm vàng gắn nhiều ngọc màu, các loại ống phóng to nhỏ bằng ngọc trắng cũng nhiều món đồ trang trí tượng ngọc, khánh ngọc, ngọc bội,v.v. không thể kể hết.

Những đồ kim bài, kim khánh, ngọc bội và những đồ ngọc không phải là món đồ thông thường của quí tộc, quan lại được dùng, mà đồ ngọc thể hiện vị trí, danh phận, vinh dự của người được đeo, được sử dụng. Riêng về ấn ngọc tỷ thường là những báu vật, quyền uy của hoàng đế vua chúa, mang biểu tượng thiêng liêng, cao quí. Những đồ ngọc được khảo tả ở trên là những đồ ngọc hiện còn được lưu tồn ở nước ta. Qua nhiều biến động, thay đổi triều đại đồ ngọc bị thất lạc nhiều nơi, đặc biệt là bị quân xâm lược vơ vét, hủy hoại. Những thông tin về ngọc tỉ của các vương triều Lý, Trần đều không có là thiệt thòi lớn về văn hóa. Các quy chế khi tạo tác các loại ấn tỷ của hoàng đế, bao giờ cũng làm từ một khối ngọc lớn, quí giá hiếm có, nên gọi là ngọc tỷ, màu làm bằng hai loại lam ngọc và bạch ngọc có độ ngọc tuổi cao trong sáng, không tì vết, là loại ngọc tốt. Như đời vua Thiệu Trị được dâng ngọc quí để làm ngọc tỷ “Đại Nam thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được coi là thời “thái hòa” nước Đại Nam.

Thời Chúa Trịnh các tỷ ấn cũng đã không còn, nhưng vẫn còn dấu tích đóng trong các bản sắc chỉ, lệnh chỉ như: Tỷ ấn Bình an Vương tỷ có niên đại 1599. Chúa Trịnh Tráng có ngọc tỷ là Thanh đô vương tỷ (1628), chúa Trịnh Tạc là Tây vương chi tỷ (1680), chúa Trịnh Cương có ấn Độ vương tỷ (1709); chúa Trịnh Giang có Uy nam vương tỷ; chúa Trịnh Doanh có Minh vương chi tỷ (1742); chúa Trịnh Sâm có Tĩnh đô vương tỷ (1768); chúa Trịnh Khải có Sư thượng Đoan vương chi tỷ (1785); Những tỷ ấn của chúa Trịnh ngày nay cũng đã không còn để nghiên cứu về hình dáng, chạm khắc nghệ thuật thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Thời Lê Trịnh là một giai đoạn lịch sử phát triển cao mọi mặt của nước ta, để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật kiến trúc đình, chùa, điêu khắc, hội họa. Vua Lê đóng vai trò lo việc đạo, Chúa lo việc đời. Các vua Lê duy nhất chỉ có tiếp sứ thần Trung Hoa, trong năm chỉ ra ngoài Hoàng cung một lần tế giao, lần thứ hai về thăm quê ở Thanh Hóa. Ngoài ra chỉ dùng một kim ấn đóng sắc phong, không có ngọc tỷ. Các chúa Trịnh trực tiếp điều hành đất nước, quân đội, thu thuế, phát động chiến tranh và tiếp sứ thần các nước, các chúa đều có ngọc tỷ. Ngọc tỷ Việt Nam từ thời cổ đại nước Nam Việt vua Võ đế Triệu Đà có ngọc tỷ, đến vua Văn đế cũng có ngọc tỷ riêng. Các vua Việt Nam xưng đế khi còn sống, khác với Trung Quốc. Các vua Hán không xưng đế khi còn sống, chỉ khi chết mới có Thụy hiệu đế. Ngọc tỷ truyền quốc, được coi như là vật tín thiêng liêng truyền ngôi từ đời vua này tới vua khác, đó là những khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc coi việc xưng đế của Việt Nam là tiếm lạm, không chịu công nhận, chỉ gọi là Vương.

Lời kết

Đồ ngọc ở Việt Nam đã được chế tác rất sớm, cùng với đồ đồng, đồ sắt trong chuyện Phù Đổng Thiên vương. Những đồ ngọc Phùng Nguyên, An Dương, Văn Đế Nam Việt có trước công nguyên hàng ngàn năm. Thẻ ngọc An Dương hành bảo, ngọc tỷ Văn Đế là những minh chứng vật chất cụ thể, đỉnh cao của quyền lực đế vương trong xã hội, với một ý thức truyền thống dân tộc riêng, độc lập, ngang cùng Tần Hán, kể cả các triều đại nước ta sau này. Biểu tượng rồng tiên khi tạo tác ngọc tỷ, đặc sắc về phong cách mỹ thuật, được truyền thừa từ nhiều đời không thay đổi trong 23 thế kỷ của người Việt cổ, dù đã bị quân xâm lược xuyên tạc, hủy hoại nhiều tập tục văn hóa Việt hàng ngàn năm, nhằm đồng hóa vẫn thất bại. ở Trung Quốc năm 1968 khảo cổ cũng đã đào được tỷ ấn của vợ Lưu Bang bằng ngọc trắng khắc 4 chữ “Hoàng hậu chi tỉ” núm hình kỳ lân, được khẳng định là của Lã Hậu ở Thiểm Tây gần lăng Hán Đế. Người đã từng định xâm lược nước ta nhưng đã bị Võ Đế Triệu Đà đánh thua ở trận Trường Sa. “Võ đế ngồi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, dùng nghi vệ ngang với nhà Hán”. Sử Trung Hoa đã có nhiều “ngụy thư”, làm ta hiểu sai lạc lịch sử cha ông xưng Đế. Chính việc phát lộ lăng mộ Văn đế Triệu Muội cháu Triệu Đà là một cột mốc lịch sử, chứng minh cụ thể bằng vật chất: Trống đồng, thạp đồng, kim ấn, ngọc tỷ và hơn 200 món đồ ngọc cao cấp nước Việt cổ đại, những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại là hào quang của sự thật lịch sử nước ta thời cổ đại.

Ngày nay trong lễ kỷ niệm 1000 kinh đô Thăng Long, tượng Phật ngọc to lớn và đặc biệt là tượng ngọc Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông được tạo tác rực rỡ ghi dấu năm thứ 4890 của đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến.

TRỊNH QUANG VŨ

Tài liệu tham khảo

1. ấn chương Việt Nam – NXBKHXH, 2005

2. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH, 1993

3. Artifacts in the nanyue King’s tomb Western han dynasty- Nationlal Museum of history Taipei 1998

4. Lăng mộ Văn Đế ở Quảng Châu – Nguyễn Duy Chính

5. Thủy kinh chú sớ – NXB Thuận Hóa, 2001

6. Cổ ngọc Việt Nam- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 2011 Hà Nội

7. Thanh cung 13 triều của Hứa Tiểu Thiên

8. Thư của Dư Duy Cương về thẻ ngọc “An Dương hành bảo” nhà nghiên cứu ngọc giản gửi Hồ Chủ tịch (bản dịch của nhà sử học Trần Văn Giáp năm 1956)

9. Nanyue King’s tomb Western han (volume I, II) cultural Relies Pusblisling House Beijng 1991.

10. Trang sức người Việt cổ, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2001.

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC TRẠI SÁNG TÁC ĐỒ HOẠ CỦA HOẠ SĨ TỈNH BẠC LIÊU NĂM 2015 TẠI TRUNG TÂM MỸ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI

Căn cứ quyết định số 258/15/BTV ngày 15 tháng 05 năm 2015 của Ban Thường vụ Hội Mỹ Thuật Việt Nam về việc tổ chức Trại sáng tác Đồ hoạ của hoạ sĩ tỉnh Bạc Liêu năm 2015 tại Trung tâm Mỹ thuật Đương đại; Căn cứ Quy chế Chi tiêu Nội bộ số 736/14/BTV ngày 25/12/2014 của Ban Thường vụ Hội Mỹ Thuật Việt Nam, Văn phòng Trung ương Hội Mỹ Thuật Việt Nam lập kế hoạch tổ chức Trại sáng tác Đồ hoạ của hoạ sĩ tỉnh Bạc Liêu năm 2015 tại Trung tâm Mỹ thuật Đương đại như sau:

1. Tên trại: Trại sáng tác Đồ hoạ tỉnh Bạc Liêu năm 2015

2. Nội dung sáng tác: về đề tài Đảng, Bác Hồ, Chiến tranh Cách mạng, Công – Nông nghiệp, Biển đảo, và đề tài khác ….

3. Thời gian dự trại: từ ngày 27/05/2015 đến 05/06/2015.

4. Địa điểm tổ chức trại: Trung tâm Mỹ thuật Đương đại, 621 đường Đê La Thành (17 Thành Công), Hà Nội

5. Đối tượng dự trại: Hoạ sĩ tỉnh Bạc Liêu (có danh sách kèm them)

6. Lịch tổ chức Trại:

– Chiều 14giờ ngày 27/05/2015: Ban Thường vụ gặp mặt trại viên và khai mạc trại.

– Từ 28/05/2015 – 05/06/2015: Các trại viên làm việc tại Trung tâm.

– 10h 00 ngày 05/06/2015: Bế mạc trại.

– Sáng 05/06/2015: Trại viên treo tranh trưng bày tại Trung tâm Mỹ thuật Đương đại để báo cáo kết quả dự trại.

– Sáng 06/05/2015: các trại viên trở về địa phương

7. Hướng dẫn chuyên môn cho trại:

– Hoạ sĩ Lê Huy Tiếp

www.vietnamfineart.com.vn