Quách Phong và bức tranh Sài Gòn Giải Phóng

Ấn tượng về họa sĩ Quách Phong (Quách Văn Phong hay Nguyễn Anh Việt) là một người khiêm nhường, giản dị với những bức tranh sơn mài có bút pháp mạnh mẽ thể hiện đề tài “Chiến tranh cách mạng”, trong đó tác phẩm “Sài Gòn giải phóng” là một điểm nhấn trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam khiến người ta nhớ đến vào dịp 30 tháng 4 năm 1975, kỷ niệm ngày chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Sinh ra trong một gia đình kháng chiến có truyền thống cách mạng ở tỉnh Vĩnh Long miền Tây Nam Bộ, gia đình đã cho ông theo học ở trường Mỹ thuật Gia Định, ông tham gia đấu tranh trong phong trào sinh viên vẽ truyền đơn. Năm 1955 ông được đưa ra Bắc học khóa hai hệ trung cấp tại trường Mỹ thuật Việt Nam nay là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (42 Yết Kiêu – Hà Nội) sau được tuyển thẳng lên hệ cao đẳng, học đến năm thứ 3 (tình hình cách mạng nước ta đến hồi ác liệt), 1963 khi 25 tuổi Quách Phong xung phong nhập ngũ vượt Trường Sơn trở về quê hương chiến đấu.

Được tổ chức phân công về Quân khu chiến khu Bác Ái – Ninh Thuận, lấy bí danh là Nguyễn Anh Việt với nghĩa là Việt Nam anh hùng, họa sĩ Quách Phong sống, làm việc, chiến đấu cùng các chiến sĩ, đồng bào.

Thời kỳ này các sang tác của họa sĩ chủ yếu là ký họa, tranh cổ động phục vụ chiến đấu. Ông đi khắp các chiến trường, bên cạnh ba lô, cây súng còn bút, giấy màu, có điều kiện là ông vẽ trực tiếp về chiến sĩ, đồng bào trong sản xuất, chiến đấu, vẽ những tấm gương điển hình tiên tiến. Họa sĩ đã vẽ hàng nghìn bức ký họa, ông tổ chức nhiều triển lãm lưu động, bày tranh tại trận cho bà con, chiến sĩ xem, các tác phẩm của ông có tác động rất lớn động viên tinh thần chiến đấu.

Năm 1973, Nguyễn Anh Việt từ chiến trường ra Hà Nội hoàn thành nốt chương trình cao đẳng mỹ thuật tại trường cũ. Một cơ duyên đã dẫn họa sĩ đến với sơn mài, chất liệu truyền thống dân tộc. Họa sĩ Nguyễn Văn Tâm (trước là bạn đồng học nay là thầy) chỉ cho Quách Phong vẽ tranh sơn mài. Năm 1974 ông được cử đi nghiên cứu sinh ở Bungari, khi Bộ Đại học mời ông lên nhận hộ chiếu thì nghe tin quân ta đánh tới Đà Nẵng, Quách Phong bỏ cơ hội học sau đại học trở về miền Nam để dự trận đánh lịch sử mà ông vẫn nói vui là cho trọn vẹn bộ sưu tập của chiến tranh. Chính vì vậy ông đã được tham gia, chứng kiến trận 30 tháng 4 lịch sử, giây phút Sài Gòn giải phóng, để sáng tác thành công tác phẩm Nắng Tháng Năm (bột màu), vẽ ngay đêm 30/4/1975 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Sài gòn giải phóng (Sơn mài) trưng bày tại Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông – Quân khu 7.

Giải phóng sài gòn - Quách Phong
Giải phóng sài gòn – Quách Phong

Có thể nói bức Nắng tháng Năm là bức ký họa cuối cùng trong tập ký họa về chiến trường của Quách Phong. Khi bộ đội tiến về giải phóng Sài Gòn vào 30/4/1975, kết thúc ngày cuối của tháng 4, tác giả chọn thời điểm vào tháng năm là ngày hôm sau, ngày mai tươi sáng khi thành phố hoàn toàn giải phóng. Trung tâm bức tranh là các chiến sĩ trang phục màu xanh ngồi trên xe tăng bên tháp pháo, xung quanh, trên trời là những lá cờ đỏ sao vàng, cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng tung bay tạo không khí rộn rã, tưng bừng, xốn xang. Những tà áo dài trắng của các nữ sinh (một hình ảnh rất đặc trưng của Sài Gòn) tung bay ngời sáng, mấy nữ du kích, tự vệ đội mũ tai bèo nét mặt hồ hởi. Ánh sáng như nhảy múa được họa sĩ thể hiện qua các đường chạy của mảng sáng tối tạo cảm giác về niềm vui náo nức của ngày giải phóng. Cũng chủ đề này Quách Phong đã tiến tới một bố cục công phu hơn để vẽ bức sơn mài Sài Gòn giải phóng mà 7 năm sau ông mới hoàn thành. Trung tâm bức tranh là cảnh gặp gỡ giữa người dân và chiến sĩ giải phóng. Phía bên trái là cô nữ sinh đi xe đạp tay giơ cao như vẫy chào, cậu thiếu niên cầm chum bóng, bên phải bức tranh là hai cô gái mặc áo dài hoa quay mặt vào nhau, xen giữa là gương mặt nữ chiến sĩ giải phóng. Hai em bé tay cầm vòng nhảy múa. Phía đằng sau các chiến sĩ ngồi trên xe tăng giơ tay chào đón. Góc phải bức tranh trên ô tô tải, bộ đội cúi người giơ tay vẫy những người dân chào đón đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ tung bay trên tháp pháo, bay rợp trời. Phía trên là hình ảnh Bác Hồ như ẩn hiện… khác với bức Nắng Tháng Năm thể hiện niềm vui háo hức, bừng lên thì ở Sài Gòn giải phóng lại có độ trầm sâu (có thể do hiệu quả chất liệu). Họa sĩ thể hiện góc nhìn ở nhiều điểm khác nhau tạo sự mở cho bố cục, làm bức tranh vừa hiện thực vừa khái quát.

Sau này, họa sĩ Quách Phong tham gia công tác là Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Hội đồng giám khảo của Hội, các cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần), cuộc thi và triển lãm mỹ thuật ASEAN do Bộ Văn hóa tổ chức. Bức tranh Sài Gòn giải phóng cùng với Mùa gặt mới ở Củ Chi, Xuống đường Mậu Thân 1968 là các tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Quách Văn Phong được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007”.

Khiêm nhường và kiên định, họa sĩ Quách Phong xác định lý tường thẩm mỹ của mình là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Các tác phẩm của ông là sự lao động cần cù bền bỉ của một chiến sĩ, họa sĩ đã góp lao động, xương máu cho sự nghiệp cách mạng, là một chiến sĩ văn hóa góp phần cho sự nghiệp giải phóng quê hương. 40 năm qua, tác phẩm sơn mài Sài Gòn giải phóng là một điểm nhấn, là sự đóng góp của hội họa đối với lịch sử.

Trần Thị Quỳnh Như

Bản thiết kế trường mầm non “độc nhất vô nhị” tại Sài Gòn

Thiết kế trường mầm non là một bài toán không dành cho tất các các kiến trúc sư phổ thông. Không cần quá cầu kỳ hay phức tạp như các phong cách thiết kế nhà ở thông thường… Thiết kế và xây dựng cũng như các trang thiết bị mầm non sử dụng ở đây cần một khối óc thiên hướng yêu trẻ. Không gian nhiều màu sắc, view đẹp nhưng tinh tế là những điều hết sức quan trọng kiến tạo nên môi trường học tập tốt nhất cho trẻ.

Cùng chiêm ngưỡng mẫu thiết kế trường mầm non độc đáo đã đạt tới “cảnh giới” như chúng tôi đã đề cập phía trên.

Về tổng thể bên ngoài

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (9)
Ngôi trường mầm non với thiết kế độc lạ tại TPHCM

Bạn thấy đấy!!!

Tôi thực sự không thể đoán ra đây là một thiết kế trường mầm non. Khác lạ và đầy cá tính nhưng đó là cả một nghệ thuật…

Xem và cảm nhận một số hình ảnh ngôi trường từ bên ngoài

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (1)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (1)

Phía ngoài công trình khá kín đáo đảm bảo riêng tư và trầm lắng…

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (5)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (5)

Nhưng bên trong trường, các phòng được liên thông với nhau theo cả bề ngang và phương thẳng đứng. Các lối đi, hành lang giúp thầy cô và trẻ nhỏ kết nối, khám phá.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (12)
Tổng thể thiết kế từ phía sau với nhiều cây xanh bao phủ
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (13)
Cầu thang nằm phía cánh bên của ngôi nhà
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (11)
Như một siêu phẩm ánh sáng lúc chiều tàn

Với chất liệu gạch đỏ làm chủ đạo… Không bóng bẩy, màu mè nhưng lại toát lên vẻ đẹp từ sự đơn giản đến khó tin.

Công trình gợi nhớ tới trò chơi xếp hình của trẻ nhỏ do KTS trưởng Đàm Vũ cùng các cộng sự thiết kế. Vật liệu sử dụng chủ yếu là gạch mộc, giúp cho môi trường học tập của bé ở đây trở nên thông thoáng tự nhiên và đem lại vẻ đẹp thẩm mỹ đồng nhất.

Nội thất phía trong trường mầm non

“Chúng tôi muốn tạo ra một môi trường để mọi người có thể cùng khám phá. Trải nghiệm này không chỉ quan trọng với các bé mà còn để khơi gợi niềm cảm hứng cho giáo viên, những người chăm sóc và vui chơi với trẻ hàng ngày” – KTS trẻ ĐV chia sẻ.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (2)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (2)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (3)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (3)

Không gian học tập được chú trọng thiết kế sáng tạo giúp trẻ học cũng như chơi. Cho bé phát triển tối đa khả năng sáng tạo, phát triển trí não một cách tự nhiên thay vì thúc ép như nhiều mô hình học tập khác đang đè nặng nên thế hệ trẻ của chúng ta.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (4)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (4)

Một thiết kế sàn ghỗ đẹp và thân thiện vô cùng. Không sử dụng bàn ghế mầm non hay các loại thiết bị giáo dục mầm non thông thường. Thay vào đó là một “không gian phẳng” đến mức khá khó hiểu…

Nếu bạn là nhà thiết kế…

…Cùng tham khảo bản thiết kế trường mầm non của KTS Đàm Vũ với thiết kế trường mầm non độc nhất vô nhị này.

Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (6)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (6)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (7)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (7)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (8)
Thiet-ke-truong-mam-non-doc-dao-tai-tphcm (8)

Trên đây là một bản thiết kế trường mầm non khá mẫu mực của một KTS lâu năm, tài năng với tư dụy hiện đại trong sáng tạo, nghệ thuật… Bạn có ý tưởng hoặc bài viết hay. Để lại bình luận phía dưới bài viết để chia sẻ ý tưởng lên Hội mỹ thuật Việt Nam – Vietnamfineart.com.vn

QTIdesign.vn

Cuộc diễu hành của những hồn ma tại Artpark-Manfred Kielnhofer

Công viên nghệ thuật giới thiệu triển lãm Ghost Parade in the Artpark (Cuộc diễu hành của những hồn ma trong Công viên Nghệ thuật). Điều này nhắc đến những người đi dạo loanh quanh như những hồn ma tại Linz, giống như câu nói viết tại gallery Công viên Nghệ thuật: Con người vẫn luôn đi tìm sự phù du. Mười lăm tác phẩm điêu khắc đã được thực hiện bởi nghệ sĩ Manfred Kielnhofer và được sơn màu từng phần. Tất cả quay quanh phạm vi Nghệ thuật – Khoa học – Tín ngưỡng.

Đọc thêm: Bản thiết kế trường mầm non đẹp và độc đáo xứng tầm “tác phẩm nghệ thuật”

Manfred Kielnhofer tuyên bố: “Điểm tập trung trong nghệ thuật của tôi là những điều khác thường ở con người. Là một nghệ sĩ, dáng hình và chuyển động tự nhiên của những tư thế dáng người đặt ra cho tôi một thử thách đáng để đối mặt. Những góc nhìn và phối cảnh không gian khác nhau là điều tôi cố gắng nắm bắt và thể hiện trên tác phẩm của tôi, nhìn thấy dấu ấn của riêng mình trên nó. Tác phẩm gần nhất của tôi thực hiện theo phong cách trừu tượng, bề ngoài quét những mảng màu qua đó tôi biểu đạt được một khoảng cách nào đó đến tác phẩm. Mỗi một bức họa của tôi đều riêng biệt trong cách thể hiện lẫn tính chất”. (AD)

Họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988)

BÙI XUÂN PHÁI (sinh ngày 1- 9- 1920, mất ngày 24- 6- 1988 tại Hà Nội) quê ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông theo học tại Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá XV (1941 – 1946); hội viên ngành hội hoạ Hội Mĩ thuật Việt Nam từ 1957.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái
Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bùi Xuân Phái tham gia Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội; hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền ở Liên khu III và Việt Bắc (1947- 1952); viết báo và minh hoạ báo tại Hà Nội (1952 – 1954); giảng viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam (1956 – 1957); hoạ sĩ tổ sáng tác Hội Mĩ thuật Việt Nam. Trong quá trình sáng tác ông đã được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam. Xem tranh của ông, người ta phát hiện ra một đời sống tinh thần riêng đầy quyến rũ của những khu phố cổ Hà Nội, một phong cách riêng, thường được gọi là “Phố Phái”. 

Trước giờ biểu diễn - Bùi Xuân Phái
Trước giờ biểu diễn – Bùi Xuân Phái



Trong sự nghiệp của mình, ông không chỉ vẽ về phố mà còn vẽ nhiều đề tài về nghệ thuật chèo, về nông thôn, về vùng mỏ, chân dung… Ở mỗi đề tài, ông đều để lại những tác phẩm tiêu biểu và được đánh giá cao. Ông đã có 6 triển lãm cá nhân tại Hà Nội. Đã có nhiều cuốn sách viết về ông, gần đây nhất có mấy bộ sách “Bùi Xuân Phái – cuộc đời và tác phẩm” do NXB Mĩ thuật in của hai tác giả là hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (con trai ông) và nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn. Bộ sách đã tập hợp tương đối đầy đủ các tư liệu về cuộc đời nghệ thuật của Bùi Xuân Phái. Hiện nay, tranh của ông được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và trong nhiều bộ sưu tập cá nhân trong và ngoài nước. Riêng ngôi nhà của ông, số nhà 87 phố Thuốc Bắc, Hà Nội được coi như một bảo tàng nhỏ, trưng bày những tác phẩm của ông và con ông. 

Phố hàng Mắm - Bùi Xuân Phái
Phố hàng Mắm – Bùi Xuân Phái


Tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được tặng giải thưởng tại Triển lãm Mĩ thuật tháng Tám năm 1946; Giải Nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc năm 1980; Giải thưởng Triển lãm Đồ hoạ tại Leipzig- Đức; Giải thưởng Triển lãm Mĩ thuật Thủ đô các năm 1969, năm 1981, năm 1983 và năm 1984.

Năm 1996 hoạ sĩ Bùi Xuân Phái được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm: Hà Nội kháng chiến – Sơn dầu- 90x110cm (1954); Vợ chồng chèo – Sơn dầu (1967); Sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Hóa trang sân khấu chèo – Sơn dầu (1968); Xe bò trong phố cổ – Sơn dầu (1972); Phố cổ Hà Nội – Sơn dầu (1972); Phố vắng – Sơn dầu (1981); Trước giờ biểu diễn – Sơn dầu- 60x80cm (1984).

Nhớ Văn Cao

Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi trong lần họp Đại hội Nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV là được gặp và vẽ họa sĩ tài danh Văn Cao. Ông vốn là một nghệ sĩ đa tài được mệnh danh là “Cầm, kỳ, thi, họa”, là một nghệ sĩ hiếm hoi của Việt Nam mà bước lãng du nghệ thuật lĩnh vực nào cũng để dấu ấn sâu đậm.

Tháng 12/1994. Đại hội đại biểu nghệ sĩ tạo hình toàn quốc lần thứ IV họp tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, với hơn 300 đại biểu đại diện cho hơn 1.100 hội viên dự. Họp tới ngày thứ hai, tôi mới thấy Văn Cao trên hàng ghế đầu. Ngay lập tức tim tôi rung lên. Một ông già nhỏ bé với đôi mắt sâu đen thẫm, mái tóc bạc như sương ấy thu hút tôi kỳ lạ.

Nghe danh ông đã lâu, lại học ở cùng phố có nhà của ông (Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội ở phố Yết Kiêu) song có lẽ do mặc cảm mình quá nhỏ bé trước ông nên tôi chưa một lần dám gặp. Giờ giải lao, ông được một phụ nữ cũng cao tuổi, tóc bạc nhưng còn khỏe đỡ ông đi ra sân, đó là bà Băng – vợ ông. Tranh thủ lúc mọi người đang tìm nhau hàn huyên, tôi lách đến bên bà và xin phép được hỏi thăm ông. Sau vài lời giới thiệu, tôi hát khe khẽ để ông và vợ ông nghe:

“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau ven rừng âm u…”. Mắt ông sáng lấp lánh khi nghe tôi say sưa hát; có lẽ ông hơi ngạc nhiên vì không ngờ anh chàng họa sĩ “tỉnh lẻ” như tôi ở xa tít tận Đà Lạt lại thuộc bài hát của ông đến thế. Có nhiều họa sĩ thấy vậy cũng kéo đến hòa giọng hát với tôi: “Trên dòng sông trở về đoàn người, reo mừng vui trên sóng nước biếc…”. Có lẽ tới mấy “bè” vì không phải ai cũng thuộc bài Sông Lô. Hát xong tôi chợt nghĩ: “Phải có một tấm hình kỷ niệm với ông”. ý nghĩ ấy lóe lên và tôi nhờ họa sĩ Hoài Phi (Tp. Hồ Chí Minh) chụp giúp, đông người đến chụp cạnh ông và tôi. Phải 7 năm sau tấm ảnh này mới đến tay tôi. Tôi không thể ngờ được rằng đây là tấm ảnh quý giá mà tôi có vì chỉ 8 tháng sau (7/1995) ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của đông đảo người yêu âm nhạc và nghệ thuật cả nước.

Hết giờ giải lao mọi người vào. Tôi cùng bà Băng đỡ ông vào ngồi. Tôi không còn chú ý đến cuộc họp nữa mà lao vào vẽ chân dung ông. Bức chân dung phấn màu tôi còn giữ đến nay kể cả chữ ký của ông thật quý giá với tôi.

Sự nghiệp thơ – nhạc – họa Văn Cao thật đồ sộ, song tôi vẫn cho rằng thơ và nhạc ông thành công hơn cả. Không phải bất cứ nhạc sĩ nào trong cuộc đời mình cũng được dân tộc tôn vinh một bài hát để trở thành Quốc ca. Ông đã viết bài Tiến quân ca ở Hà Nội trong những ngày mới tìm đến cách mạng và được Quốc hội khóa 1 công nhận là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước đó nhiều ca khúc đã mang lại cho ông sự ngưỡng mộ của công chúng âm nhạc. Nếu ca khúc Buồn tàn thu ông viết ngay từ khi mới 18 tuổi (1941) còn hơi hướng nghệ sĩ lãng mạn thì những Thiên thu, Trương Chi, Suối mơ ông đã đổi mới sáng tác, cách tân về giai điệu, khúc thức và hướng về âm nhạc dân tộc.

Sau Tiến quân ca, ông cùng Nguyễn Đình Thi hẹn nhau viết 2 bài hát cho Việt Minh kháng Nhật; Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít còn ông với ca khúc Chiến sĩ Việt Nam. Một loạt các ca khúc cách mạng khác của ông đều mang dấu ấn rõ nét: Tiếng gọi công nhân, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Tiến về Hà Nội, Bắc Sơn, đặc biệt là Trường ca sông Lô… là những ca khúc hùng tráng, nhưng vẫn mang phong cách thư thái, đĩnh đạc của tâm hồn con người Việt Nam.

Với hội họa, Văn Cao tham gia triển lãm Salon Unique (duy nhất) 1944 tại Hà Nội với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Nhiều bài báo đã nhắc đến 3 tác phẩm này với lời nhận xét trân trọng.

Nhận xét về hội họa Văn Cao, Thái Bá Vân – nhà phê bình mỹ thuật Việt Nam viết:

“ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh… Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: Chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sĩ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa… Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc… Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát…”.

Trong lời vĩnh biệt nghệ sĩ đa tài Văn Cao, giáo sư – nhạc sĩ Thế Bảo viết:

“Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

Cuộc đời người nghệ sĩ đa tài lắm truân chuyên ấy qua bao thăng trầm. Rất may sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, trong không khí đổi mới của văn nghệ, những “Đêm nhạc Văn Cao” được tổ chức liên tục ở thành phố Hồ Chí Minh (1986) và Chương trình nhạc Văn Cao tổ chức tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Hà Nội (1987)… Công chúng yêu âm nhạc ở Thủ đô và cả nước thật bồi hồi xúc động lắng nghe những ca khúc mượt mà, hùng tráng của ông được trình diễn.

Ngày ông mất, Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng cũng tổ chức lễ tưởng niệm ông tại 18 Lê Hồng Phong – Đà Lạt. Trong không khí trang trọng sâu lắng, tôi cùng nhạc sĩ Mạnh Đạt hát bài Trường ca sông Lô và tất cả những người dự đã cùng hát trong âm hưởng bi tráng.

Vi Quốc Hiệp

Cổ ngọc trang sức – Ngọc tỷ Việt Nam 5000 năm

Kinh Dương Vương có tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần nông Viêm Đế. Khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương thông minh, thánh trí cai quản phương Nam gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Thần long động đình sinh ra Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. Kinh Dương Vương làm vua phương Nam năm 2879 TCN, xã hội thời đó là có văn hóa, điển chương, tôn ti trật tự và định chế xã hội. Con Lạc Long quân là Hùng Vương, mẹ là Âu Cơ, con gái Đế Lai. Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu Văn Lang. Thời đại Hùng Vương nước Văn Lang (xăm hình) Âu Lạc, Nam Việt xuất hiện hàng ngàn năm TCN, có đỉnh cao văn hóa đồ đồng thau, đồ sắt, cùng với sự phát triển nhiều đồ trang sức bằng vàng, ngọc, phục vụ yêu cầu làm đẹp cho tầng lớp quí tộc. Nhiều công xưởng chế tác ngọc tinh xảo còn lại dấu tích đến ngày nay. Con người đã biết đến đồ ngọc khoảng 7000 năm. Người Ai Cập cổ đại quan niệm linh thiêng, ngọc là máu của rồng. Văn minh cổ đại châu á coi ngọc là một trong tứ đại quý. Sự quí hiếm của ngọc là biểu tượng cao quý, giàu sang, sự trường tồn, hưng thịnh. Ngọc có màu sắc biến ảo, rực rỡ, trong sáng, hình dạng thay đổi lung linh, cứng rắn, mang lại phúc lành, tượng trưng cho quyền lực đế vương (ngọc tỷ). Người Việt cổ đại đã biết và sử dụng đồ ngọc trong đời sống xã hội. Văn hóa Phùng Nguyên còn lưu lại pho tượng nam bằng ngọc xanh, xám trong cao 3,6cm cách đây khoảng 4000 – 3500 BP; một lưỡi bôn tứ giác ngọc, màu vàng ngà dài 3,1cm x 1,2cm ở Phú Thọ, những hạt chuỗi ngọc thời Phùng Nguyên. Tiếp sau là lưỡi đục bằng ngọc màu vàng xám 5cm x 5cm vòng tay, khuyên tai Đồng Đậu, nhiều loại hình trang sức hạt chuỗi hình đốt trúc, hình cầu, hình ống, hoa tai 4 cạnh khoét lõm (hình vuông), vòng tay. Đến văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Giồng Cá Vồ… có các loại khuyên tai 2 đầu thú bằng ngọc xám, bích ngọc vô cùng phong phú, đa dạng không thể kể hết. Trên đất nước Việt Nam có nhiều công xưởng chế tác ngọc, khoảng hơn 22 công xưởng lớn từ Bắc vào Nam. ở Phú Thọ công xưởng ngọc Hồng Đà rất lớn, có vị trí thuận lợi tại ngã ba sông Hồng, sông Đà, nối liền với Vân Nam (Điền Việt) gắn liền với nước Myanmar là nơi sản xuất đồ ngọc nổi tiếng thế giới. Myanmar có những mỏ đá quý Jasper, Nephrite lộ thiên thuộc phía Bắc nước này. Tôi đã đến thăm nhiều tượng Phật ngọc cao ngót 10m là nguyên một khối ngọc ở Myanmar. Ngọc Myanmar đã đưa đi khắp thế giới trong đó có con đường qua Việt Nam là công xưởng Hồng Đà, công xưởng chế tác ngọc ở đồng bằng Việt Nam. Bãi Tự, thuộc làng Tiên Thượng, sông Tương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, rộng khoảng 1 vạn mét vuông, gần sông Tiêu Tương, nằm trên 1 gò đất thấp, gần chùa Phật Tích. Nơi đây trước kia sản xuất nhiều đồ trang sức bằng ngọc, hiện còn tìm thấy nhiều chế tác dang dở. Xuôi về phía hạ lưu là công xưởng Tràng Kinh, nằm trên núi Hoàng Tôn và núi Ao Non thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xưa kia nằm kề biển Đông là công xưởng ngọc lớn nhất nước ta. Tại đây đã tìm thấy ngọc Jasper và Nephirte sản xuất các loại vòng tay, hạt chuỗi, nhẫn,v.v. Khu vực miền trung tập trung ở vùng sông Mã, sông Chu, miền nam các xưởng ngọc ở sông Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với nhều đồ ngọc chế tác tinh xảo.

Cổ ngọc trang sức Việt Nam
Cổ ngọc trang sức Việt Nam

Thẻ ngọc thời An Dương Vương Âu Lạc

Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” đã tìm được ở Quảng Châu là đất Giao Châu thời cổ. Năm Ngô Hoàng Vũ thứ 6 (227), vua Ngô nghe tin Sĩ Nhiếp mất, mới chia Hợp Phố trở về bắc thuộc Quảng Châu, quận Hợp Phố trở về Nam thuộc Giao Châu, đặt Quảng Châu phụ thuộc vào nhà Tấn (Đại Việt sử ký toàn thư T1/165/168). Theo nhà nghiên cứu “sở giản” Dư Duy Cương ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam: “Thẻ ngọc “An Dương hành bảo” có hình dạng gần chữ nhật, bốn góc thẻ khắc bốn chữ An Dương hành bảo, khổ chữ to hơn khổ chữ phía trong mặt thẻ gồm 124 chữ lối cổ trựu. Bản khắc toàn văn sáu mươi (Giáp Tý), (60 chữ can chi). Xung quanh trang trí khắc đường vằn sóng lượn. Do bị chôn lâu ngày dưới đất nên màu vàng hơi hung hung đỏ. Mặt trái thẻ trang trí đường cong hình móc câu. Nét chạm trên “An Dương ngọc giản” thô. Ông đã phân tích “Ngọc bảo An Dương này là của An Dương cổ đại Việt Nam. An Dương hành bảo có lỗ đeo, đây là loại ngọc phiến người xưa đeo là bật báu hộ thân, trừ tà để được an lành”. Ngọc giản này đào được ở phía Đông Nam cách thành phố Quảng Châu 18km ở trên hạ lưu sông Việt – Giang do một nông dân khi cuốc đất đào được ở sườn núi năm 1932. Những ngọc giản đào được ở Quảng Châu khoảng 200 thẻ, trong đó có thẻ ngọc khắc chữ An Dương là của nước Việt. Khi Nam Việt đánh bại Âu Lạc, các báu vật của Âu Lạc là chiến lợi phẩm nên mới đào được ở Quảng Châu. Theo Thủy kinh chú dẫn sách Giao Quảng Xuân Thu của Vương Thị: vua Việt là Triệu Đà; khi chết được chôn trong ngôi mộ hiểm hóc thần bí. Việc chôn cất của Triệu Đà là nhân hình thế núi làm lăng mộ. Phần mộ của Đà khá xa hoa và lớn, chôn chứa nhiều đồ quý. Thời Ngô, vua Tôn Quyền đã sai người tìm mộ Triệu Đà, đào núi phá đá, kết cục không tìm được gì. Đà tuy xa xỉ tiếm lạm nhưng vẫn giữ được yên thân, khiến người đời sau không biết chôn ở chỗ nào…”

Như vậy việc phát hiện ngọc giản là chiến lợi phẩm đem tuẫn táng ta có thể thấy ở một số nơi đào được như là mộ giả của Triệu Đà (theo thuyết nghi chủng). Tập tục chôn theo các vật quí báu như ngọc giản chôn theo người chết có khoảng từ đời nhà Thương. Sách Thất quốc khảo đời Minh dẫn sách Mặc trang mạn lục của Trương Bang Cơ đầu thế kỷ XII (1131) đời Tống viết: “Khoảng năm Chính Hòa triều Tống Huy Tông (1111 – 1118) triều đình tìm kiếm các đỉnh, di đời tam đại… sai quân phá mộ Tỷ Can ở phủ Phượng Tường, tìm được mâm đồng đường kính hơn hai thước, có khắc 16 chữ, lại bắt được 43 phiến ngọc mỗi phiến dài hơn 3 tấc, trên tròn mà nhọn, dưới rộng mà vuông, sắc ngọc trong sáng. Đó đều là những vật rất lạ trong những đồ chôn theo”. Theo lời tả thì hình dạng lớn bé các vật đó giống như “An Dương ngọc giản” ta mới tìm thấy, chỉ có khác là đảo ngược phía trên xuống dưới và không có văn tự mà thôi”.

Những ước đoán của Dư Duy Cương năm 1956 được chứng minh 24 năm sau, tại Quảng Châu đã phát hiện ra mộ của cháu Triệu Đà là Văn đế Triệu Muội tháng 8 năm 1980, con thái tử Trọng Thủy. Báo cáo khảo cổ do Mạch Anh Hào giám đốc danh dự của viện bảo tàng Quảng Châu trong bài tường trình tại Hội nghị khảo cổ Đông á tháng 3 năm 1986 tại Hội nghị sảnh Đại học Hồng Kông. Trước đây Tôn Quyền đã sai tướng Lã Du tìm mộ Võ Đế Triệu Đà nhưng không tìm được, sau đó đã tìm mộ của Minh Đế Anh Tề, là con của Văn Đế Triệu Muội, chắt của Võ Đế Triệu Đà, lấy được rất nhiều bảo vật trong đó cũng có nhiều đồ ngọc. Theo lời truyền ngôn mộ của Triệu Đà đã được di về Việt Nam khu vực gần chùa Thầy thuộc Hà Nội ngày nay. Vùng này cũng là nơi tể tướng Lữ Gia đánh nhau bị thua quân Hán do Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức chỉ huy. Nước ta bị Hán xâm lược từ đó, năm Tân Mùi (110 TCN).

Những đồ ngọc ở lăng Văn Đế Triệu Muội – Nam Việt

Lăng mộ Triệu Muội được tình cờ phát hiện ra sau 2200 năm là một dấu ấn lịch sử to lớn, có nhiều giá trị về văn hóa, mỹ thuật, nhạc khí, trang sức, trang phục, chứng minh bằng vật chất cụ thể nền văn minh Việt Nam. Trong lăng mộ có nhiều đồ dùng sinh hoạt, gấm vóc, ngọc ngà, gốm sứ, trống đồng, thạp đồng của thời Hùng vương nước Văn Lang và An Dương nước Âu Lạc. Riêng về đồ ngọc, có một khối lượng rất lớn, chạm khắc tinh xảo khoảng hơn 200 món ngọc khí. Đầu tiên phải kể đến bộ quần áo, giầy bằng ngọc để liệm cho Văn Đế, được liên kết bằng 2291 miếng ngọc khâu bằng chỉ tơ đỏ, viền gấm đỏ (ti y ngọc lũ) đã được chế tác tại các công xưởng ngọc ở Việt Nam. Ngoài hàng chục ấn vàng, mộ Văn Đế còn 9 ấn ngọc trong đó có ba ấn đề chữ: Đế ấn, Triệu Muội, Thái tử được đặt bên thi hài Văn đế.

Đế ấn Triệu Muội là một khối ngọc mầu trắng ngả vàng, xung quanh thành ấn trang trí đường triện, trên núm ấn tạc hình linh phù tượng hổ há miệng nhe nanh, giương móng vuốt dữ dội. Ta có thể so sánh với một ấn ngọc thời Lê Trịnh thế kỷ XVI, XVII là một khối ngọc màu xanh xám cao 6,7cm x 7,3cm, là ấn Vạn thọ vô cương, trên núm có hình linh thú tượng hổ tương tự cách nhau khoảng 1800 năm về tỷ ấn bằng ngọc Việt Nam. Đồ bích ngọc gồm 56 món được chế tác vô cùng tinh xảo, mỹ thuật, chạm khắc cầu kỳ hình rồng trong các bích ngọc tròn. Một đại bích ngọc (nha chương) có đường kính lớn 33,4cm được mệnh danh là vua của các loại bích ngọc. Một hộp ngọc hình trụ cao 77cm chạm hình 2 con phượng và các hình trang trí phù điêu chau chuốt có ánh màu vàng trong khối viên trụ màu xanh. Nhiều đai đeo thắt lưng để móc đeo kiếm bằng ngọc nhiều màu dài 18,4cm hình hơi cong được chế tác cho Văn Đế đeo kiếm, đeo tỷ ấn, đeo túi hương liệu, chạm khắc hình rồng, hình rùa, rắn, nhạn rất sinh động. Những đai lưng bằng ngọc này còn có thể thấy trong đồ ngọc của triều Nguyễn lưu giữ được của Việt Nam có trang trí hoa văn khắc chìm, nổi bằng ngọc trắng, trắng ngà từ thế kỷ I đến thế kỷ III dài 8,5cm x 2,1cm có hình dáng tương tự ở mộ Văn Đế nhưng ngắn hơn nhiều. Đồ ngọc còn chiếc ngọc giác bôi (chén uống rượu) hình sừng tê là đồ đặc biệt, có một không hai của Nam Việt. Nhiều đồ trang sức ngọc đeo cổ hình vũ nữ, màu vàng dáng múa sinh động. Một âu ngọc màu vàng đồng trong mờ hình tròn, trông nghiêng hình ô van, cao 7,7cm, đường kính 9,8cm, đỉnh nắp có khuyên vòng tròn chạm hoa văn vặn thừng kiểu Đông Sơn, chui qua núm nắp, chứng tỏ khi chế tác từ một khối ngọc đã khéo léo tách ra chui lồng vào nhau vô cùng tinh tế của thợ ngọc Việt Nam hơn hai ngàn năm trước. Ngoài ra còn có một tượng ngọc màu vàng trang phục gấm hoa sen, tay rộng đang múa, tóc chải xẻ ngôi giữa buông ra phía sau, rất điển hình thiếu nữ Việt. Trong mộ còn có gối ngọc trai. Một hộp đựng hàng ngàn viên ngọc trai kích thước lớn từ 1 đến 3cm. Thời Lý nước ta cũng đã phải nộp cống phẩm nhiều loại ngọc to bằng quả mận, quả đào sang triều Tống. Thời Mã Viện nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh đã sang vơ vét đồ vàng, ngọc, ngà voi của nước ta rất nhiều, mang về Trung Hoa. Nhân đây, xin dẫn một câu chuyện cướp ngọc của nước ta là viên bại tướng nhà Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị, đã chạy trốn khỏi Thăng Long khi bị vua Quang Trung tiến ra bắc năm 1789. Sách Thanh Cung mười ba triều Việt: “có một hôm Hòa Khôn đi vào cung chầu sớm, thấy viên đại thần Tôn Sỹ Nghị tước Văn Tỉnh Công đã đến triều phòng ngồi đợi từ trước. Nhân lúc chờ đợi chẳng có chuyện gì để giết thời gian, Nghị bèn lấy chiếc tỵ yên hồ (lọ hình tỳ bà) trong bọc ra ngắm chơi. Hòa Khôn thấy vậy, chạy tới xem thì ra chiếc tỵ yên hồ này là một khối trân châu lớn vừa bằng quả trứng gà, chạm trổ rất mỹ lệ. Khôn thích quá, liền giơ tay ra muốn cầm lấy. Nghị hoảng lên vội nói: “Ngọc này nhân tôi đi đánh Đại Việt nên cướp được đó, hôm qua tôi đã tâu rõ với Hoàng đế (Càn Long) là hôm nay đem hiếu kính ngài, quyết không thể nào cho đại nhân được đâu.

Khôn thấy Nghị có vẻ hoảng sợ quá sá, bèn cười nói: Tôi có ý đùa đại nhân đấy thôi, chứ đâu muốn lấy mà đại nhân sợ?. Cách ba hôm sau, Tôn Sỹ Nghị lại vào chầu, ngồi đợi tại triều phòng và gặp Hòa Khôn. Khôn đưa tay vào trong bọc rút ra một chiếc tỵ yên hồ, đưa cho Nghị xem và nói:

– Đại nhân xem! Tôi cũng có một chiếc tỵ yên hồ đây này.

Nghị cầm xem, thì ra là chiếc ngọc tỵ yên hồ này là đồ Nghị đã dâng cho hoàng đế Càn Long. Nghị hỏi Khôn:

– Đại nhân lấy đâu ra vậy?

– Lấy của hoàng thượng chứ còn lấy ở đâu nữa! – Khôn nói”

Đó là câu chuyện thật, đã xảy ra trong nội cung triều Thanh Càn Long về khối ngọc mà Tôn Sỹ Nghị cướp ở nước ta được Hứa Tiếu Thiên viết trong sách đã dẫn (TCBT/Tc/trang 260, 261).

Đồ ngọc ở nước ta đã được sử dụng nhiều trong tầng lớp quý tộc, trong cung đình, ngọc gắn trên mũ ô sa, các xâu ngọc gắn trên mũ bình thiên, các quan vào hầu chúa Trịnh mặc áo thanh cát đều thắt dây theo kép xâu ngọc.

Trong những món đồ ngọc của vương triều Nguyễn thuộc bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ đồ ngọc Việt từ thế kỷ I đến thế kỷ III tượng cá ngọc mầu xanh xám, cá ngọc màu trắng ngà xanh, nghiên mực ngọc trắng xám dài 9,1cm rộng 6,9cm, tượng thú ngọc màu vàng cam ngả xám, ngọc trắng xám trang trí, hình thú màu trắng hồng, tượng ve sầu ngọc mầu ngà dài 7,4cm rộng 1,8cm, tượng ve sầu mầu nâu xám dài 3,5cm rộng 1,5cm, tượng ngọc màu trắng ngà dài 2,6cm, rộng 1,7cm hình ve sầu… rất nhiều đều ở thời gian đầu công nguyên từ thế kỷ I đến thế kỷ III.

Những đồ ngọc triều Nguyễn

Đồ ngọc triều Nguyễn qua thời gian biến động lịch sử đã bị thất thoát nhiều ra nước ngoài. Tuy nhiên bảo tàng cung đình Huế còn lưu giữ được một số đồ ngọc quí giá, đại diện cho diện mạo đồ ngọc của nhà vua Nguyễn trong hai thế kỷ XIX, XX là các ngọc tỉ, ấn kiếm, đồ thờ, đồ sinh hoạt vui chơi bằng ngọc. ấn ngọc Đại Nam hoàng đế chi tỷ (Thiệu Trị) 1844, ấn Đại Nam thụ thiên vinh mệnh truyền quốc tỷ, là một khối ngọc trắng cao 14,5cm, hình gần vuông 13cm x 12 x 4,3cm thành ấn 3 tầng đế ấn. Núm ấn hình rồng cuộn, đầu rồng cao nổi hoành tráng trên đế ấn (Thiệu Trị). ấn Đại nam Thiên tử chi tỷ bằng ngọc xám xanh cao 10,5cm dài 12,4cm x 5,2cm những tỷ ấn này đều được tạo tác mỹ thuật tinh xảo, chau chuốt sáng trong lung linh hiếm có. ấn Thiện Đức, ấn Y nhân bằng ngọc trắng tạo hình như hình chiếc lá chạm khắc chau chuốt. ấn Nhật tân, Hựu tân ngọc trắng núm ấn rồng khoanh tròn đầu rồng nhô cao nhe nanh vuốt. ấn Nghi biểu Vạn tôn ngọc trắng cao 5,3cm, vuông 3,3cm hình sư tử trắng đang chầu. ấn Khải Định Hoàng đế chi tỷ làm năm Bính Thìn 1916 bằng ngọc trắng, chạm khắc đầu rồng lớn ẩn trong mây hình kim tự tháp. ấn Tự Đức thân hân cao 4,7cm chạm tượng đầu, đuôi rồng nổi gồ cao trong mây trên một khối ngọc vuông cao 4,7cm. ấn Tự Đức Thần Khuê hình ô van là một khối ngọc trắng cao 4,2cm, dài 4,4cm, rộng 2,3cm, tạc tượng rồng uốn lượn đầu vươn cao hai tay vuốt râu kiểu tương tự rồng ở điện Kính thiên… Điểm qua các đồ ngọc khác còn có đôi song kiếm âm dương bằng ngọc trắng và nạm vàng, một thanh dài 80 và một thanh dài 90cm đốc kiếm và chuôi kiểu tây phương. Chuôi gươm bằng ngọc trắng nạm vàng, lưỡi gươm cong kiểu gươm Nam á. Một chuôi kiếm ngọc màu xà cừ nâu đỏ nạm vàng, thanh kiếm thẳng. Đôi đai thờ bằng ngọc trắng, khảm vàng cao 21cm đường kính 16cm đính ngọc nhiều màu: lam ngọc, hồng ngọc, núm đài thờ hình quả chuông trên là bầu hồ lô, tạo dáng nhiều tầng, thắt hồ lô vòng quanh đài là chữ triện lớn, tạo dáng uyển nhã mỹ lệ. Các thẻ ngọc như ý nhiều loại bằng ngọc trắng, bức chạm ngọc Ngự diên Văn bảo bằng ngọc trắng xám, cao 28,6cm rộng 17,8cm hình lưỡng long triều nhật, chạm bong hai mặt bằng ngọc trắng xám, trang trí hoa mỹ, bố cục mỹ lệ thanh nhã, cao quý, trong sáng, mát mắt, mát tay. Đồ nghiên ngọc cũng có rất nhiều kiểu dáng: nghiên mực hình lá sen dài 19cm rộng 13cm ngọc xanh xám nâu có gân lá sinh động, viền mép uốn cong vào rất tự nhiên, đẹp. Nghiên mực hình trái táo, nghiên mực hình ô van ngọc trắng xám, nghiên mực hình chiếc lá, nghiên mực ngọc trắng xám bọc kim loại, nghiên mực ngọc trắng, chạm hoa lá, nghiên mực khắc thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đồ ngọc triều Nguyễn còn các loại thẻ bài như ngự tiền sắc mệnh triều vua Thiệu Trị, Thiệu Trị vạn tuế. Thẻ bài cho các quan đều bằng ngọc trắng. Ngoài ra các loại lọ, bình, đỉnh ngọc chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo, đường nét chạm có truyền thống giống chế tác ngọc thời cổ đại Nam Việt. Một số âu bình, ấm chén uống chè bằng ngọc trắng có xu hướng hiện đại, kiểu cách giao thoa với phương tây không thể kể hết. Đặc biệt một số đồ ngọc đặc trưng Việt Nam như cối, chầy giã trầu bằng ngọc, điếu bát bằng ngọc xanh hồ thủy, đôi sáo bằng ngọc trắng, quản bút, gang kính bằng ngọc, các chậu (quán tẩy) rửa tay bằng ngọc trắng, vành chậu nạm vàng gắn nhiều ngọc màu, các loại ống phóng to nhỏ bằng ngọc trắng cũng nhiều món đồ trang trí tượng ngọc, khánh ngọc, ngọc bội,v.v. không thể kể hết.

Những đồ kim bài, kim khánh, ngọc bội và những đồ ngọc không phải là món đồ thông thường của quí tộc, quan lại được dùng, mà đồ ngọc thể hiện vị trí, danh phận, vinh dự của người được đeo, được sử dụng. Riêng về ấn ngọc tỷ thường là những báu vật, quyền uy của hoàng đế vua chúa, mang biểu tượng thiêng liêng, cao quí. Những đồ ngọc được khảo tả ở trên là những đồ ngọc hiện còn được lưu tồn ở nước ta. Qua nhiều biến động, thay đổi triều đại đồ ngọc bị thất lạc nhiều nơi, đặc biệt là bị quân xâm lược vơ vét, hủy hoại. Những thông tin về ngọc tỉ của các vương triều Lý, Trần đều không có là thiệt thòi lớn về văn hóa. Các quy chế khi tạo tác các loại ấn tỷ của hoàng đế, bao giờ cũng làm từ một khối ngọc lớn, quí giá hiếm có, nên gọi là ngọc tỷ, màu làm bằng hai loại lam ngọc và bạch ngọc có độ ngọc tuổi cao trong sáng, không tì vết, là loại ngọc tốt. Như đời vua Thiệu Trị được dâng ngọc quí để làm ngọc tỷ “Đại Nam thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được coi là thời “thái hòa” nước Đại Nam.

Thời Chúa Trịnh các tỷ ấn cũng đã không còn, nhưng vẫn còn dấu tích đóng trong các bản sắc chỉ, lệnh chỉ như: Tỷ ấn Bình an Vương tỷ có niên đại 1599. Chúa Trịnh Tráng có ngọc tỷ là Thanh đô vương tỷ (1628), chúa Trịnh Tạc là Tây vương chi tỷ (1680), chúa Trịnh Cương có ấn Độ vương tỷ (1709); chúa Trịnh Giang có Uy nam vương tỷ; chúa Trịnh Doanh có Minh vương chi tỷ (1742); chúa Trịnh Sâm có Tĩnh đô vương tỷ (1768); chúa Trịnh Khải có Sư thượng Đoan vương chi tỷ (1785); Những tỷ ấn của chúa Trịnh ngày nay cũng đã không còn để nghiên cứu về hình dáng, chạm khắc nghệ thuật thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Thời Lê Trịnh là một giai đoạn lịch sử phát triển cao mọi mặt của nước ta, để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật kiến trúc đình, chùa, điêu khắc, hội họa. Vua Lê đóng vai trò lo việc đạo, Chúa lo việc đời. Các vua Lê duy nhất chỉ có tiếp sứ thần Trung Hoa, trong năm chỉ ra ngoài Hoàng cung một lần tế giao, lần thứ hai về thăm quê ở Thanh Hóa. Ngoài ra chỉ dùng một kim ấn đóng sắc phong, không có ngọc tỷ. Các chúa Trịnh trực tiếp điều hành đất nước, quân đội, thu thuế, phát động chiến tranh và tiếp sứ thần các nước, các chúa đều có ngọc tỷ. Ngọc tỷ Việt Nam từ thời cổ đại nước Nam Việt vua Võ đế Triệu Đà có ngọc tỷ, đến vua Văn đế cũng có ngọc tỷ riêng. Các vua Việt Nam xưng đế khi còn sống, khác với Trung Quốc. Các vua Hán không xưng đế khi còn sống, chỉ khi chết mới có Thụy hiệu đế. Ngọc tỷ truyền quốc, được coi như là vật tín thiêng liêng truyền ngôi từ đời vua này tới vua khác, đó là những khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc coi việc xưng đế của Việt Nam là tiếm lạm, không chịu công nhận, chỉ gọi là Vương.

Lời kết

Đồ ngọc ở Việt Nam đã được chế tác rất sớm, cùng với đồ đồng, đồ sắt trong chuyện Phù Đổng Thiên vương. Những đồ ngọc Phùng Nguyên, An Dương, Văn Đế Nam Việt có trước công nguyên hàng ngàn năm. Thẻ ngọc An Dương hành bảo, ngọc tỷ Văn Đế là những minh chứng vật chất cụ thể, đỉnh cao của quyền lực đế vương trong xã hội, với một ý thức truyền thống dân tộc riêng, độc lập, ngang cùng Tần Hán, kể cả các triều đại nước ta sau này. Biểu tượng rồng tiên khi tạo tác ngọc tỷ, đặc sắc về phong cách mỹ thuật, được truyền thừa từ nhiều đời không thay đổi trong 23 thế kỷ của người Việt cổ, dù đã bị quân xâm lược xuyên tạc, hủy hoại nhiều tập tục văn hóa Việt hàng ngàn năm, nhằm đồng hóa vẫn thất bại. ở Trung Quốc năm 1968 khảo cổ cũng đã đào được tỷ ấn của vợ Lưu Bang bằng ngọc trắng khắc 4 chữ “Hoàng hậu chi tỉ” núm hình kỳ lân, được khẳng định là của Lã Hậu ở Thiểm Tây gần lăng Hán Đế. Người đã từng định xâm lược nước ta nhưng đã bị Võ Đế Triệu Đà đánh thua ở trận Trường Sa. “Võ đế ngồi xe mui vàng, cắm cờ tả đạo, dùng nghi vệ ngang với nhà Hán”. Sử Trung Hoa đã có nhiều “ngụy thư”, làm ta hiểu sai lạc lịch sử cha ông xưng Đế. Chính việc phát lộ lăng mộ Văn đế Triệu Muội cháu Triệu Đà là một cột mốc lịch sử, chứng minh cụ thể bằng vật chất: Trống đồng, thạp đồng, kim ấn, ngọc tỷ và hơn 200 món đồ ngọc cao cấp nước Việt cổ đại, những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại là hào quang của sự thật lịch sử nước ta thời cổ đại.

Ngày nay trong lễ kỷ niệm 1000 kinh đô Thăng Long, tượng Phật ngọc to lớn và đặc biệt là tượng ngọc Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông được tạo tác rực rỡ ghi dấu năm thứ 4890 của đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến.

TRỊNH QUANG VŨ

Tài liệu tham khảo

1. ấn chương Việt Nam – NXBKHXH, 2005

2. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH, 1993

3. Artifacts in the nanyue King’s tomb Western han dynasty- Nationlal Museum of history Taipei 1998

4. Lăng mộ Văn Đế ở Quảng Châu – Nguyễn Duy Chính

5. Thủy kinh chú sớ – NXB Thuận Hóa, 2001

6. Cổ ngọc Việt Nam- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 2011 Hà Nội

7. Thanh cung 13 triều của Hứa Tiểu Thiên

8. Thư của Dư Duy Cương về thẻ ngọc “An Dương hành bảo” nhà nghiên cứu ngọc giản gửi Hồ Chủ tịch (bản dịch của nhà sử học Trần Văn Giáp năm 1956)

9. Nanyue King’s tomb Western han (volume I, II) cultural Relies Pusblisling House Beijng 1991.

10. Trang sức người Việt cổ, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2001.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1954)

TÔ NGỌC VÂN (sinh ngày 15-12-1906 tại Hà Nội, hy sinh ngày 17 tháng 6 năm 1954, tại km 41 Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô), quê ông ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ, Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ và rất yêu thích vẽ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông trúng tuyển vào Trường Mĩ thuật Đông Dương.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân
Họa sĩ Tô Ngọc Vân

Những năm học ở đây, Tô Ngọc Vân hăng say tiếp nhận những kiến thức về nghệ thuật tạo hình mới của châu Âu, đặc biệt là lối sử dụng chất liệu sơn dầu. Năm 1931, Tô Ngọc Vân tốt nghiệp Trường Mĩ thuật Đông Dương. Năm 1932, tác phẩm Bức thư (tranh lụa) của ông được tặng bằng danh dự của Hội các hoạ sĩ Pháp và được thưởng huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Pa-ri. Năm 1935, ông được bổ nhiệm đi dạy vẽ tại Phnôm Pênh (Cam-pu- chia). Tô Ngọc Vân là hoạ sĩ rất thành công với chất liệu sơn dầu. Tranh của ông không đơn thuần là sao chép vẻ đẹp thiên nhiên, mà qua đó ông đã gửi gắm nỗi lòng của người nghệ sĩ.

Thời kì đầu, chủ yếu ông hay vẽ mô tả vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ thị thành; những bức tranh nổi tiếng thời đó là: Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu nữ với hoa sen (1944)… Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thức tỉnh và lay động tâm hồn người nghệ sĩ. Tô Ngọc Vân đoạn tuyệt với đề tài cũ, bắt đầu một giai đoạn mới trong sự nghiệp sáng tác của mình, mở đầu là bức tranh thể hiện hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946).

Thiếu nữ bên hoa huệ - Tô Ngọc Vân
Thiếu nữ bên hoa huệ – Tô Ngọc Vân


Từ đó, ông đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những nỗi trăn trở day dứt của một người nghệ sĩ chân chính, đồng thời, đời sống thực tế của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng đưa đến cho ông nhận thức mới về sự nghiệp nghệ thuật của dân tộc. Ông tham gia cải cách ruộng đất rồi đi chiến dịch, làm nhiệm vụ của một người chiến sĩ. Ông còn được giao trọng trách mở lớp vẽ để đào tạo ra nhiều cán bộ làm công tác mĩ thuật phục vụ cho công cuộc kháng chiến.

Ông từng là Trưởng đoàn Văn hóa kháng chiến Việt Bắc, Giám đốc Xưởng hoạ kháng chiến và Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam. Trong giai đoạn này, ông vẽ nhiều về người nông dân và chiến sĩ. Tô Ngọc Vân đã phát hiện được trong cái mộc mạc, giản dị của họ biết bao vẻ đẹp thiêng liêng và cao quý. Từ bức sơn mài Nghỉ chân bên đồi (1948), Hai chiến sĩ (1949) – màu nước, đến nhiều kí hoạ và phác thảo hoàn chỉnh được vẽ vào năm 1954 của ông như Đi học đêm, Con trâu quả thực, Lên đèo, Hành quân qua suối, Đèo Lũng Lô… với tình cảm cách mạng, ông đã xây dựng thành công hình tượng con người mới trong thời kì kháng chiến chống Pháp. 

Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ - Tô Ngọc Vân
Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ – Tô Ngọc Vân

Gần đến ngày kết thúc cuộc kháng chiến gian lao và ác liệt, ông đã hi sinh tại chân đèo Lũng Lô (chiến dịch Điện Biên Phủ) trong lúc sự nghiệp sáng tác của ông đang rực rỡ. Toàn bộ các tác phẩm ông vẽ trong chiến dịch Điện Biên Phủ được trao giải nhất tại Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc tháng 11-1954 ở thủ đô Hà Nội. Nhiều tác phẩm của Tô Ngọc Vân được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và trong các bộ sưu tập cá nhân trong và ngoài nước. Tô Ngọc Vân được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ. Thi hài của ông được mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch. Khoá học 1955 – 1957 của Trường Cao đẳng Mĩ thuật Việt Nam mang tên “Tô Ngọc Vân”. Tên ông còn được đặt cho một đường phố ở thủ đô Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đốt đuốc đi học - Tô Ngọc Vân
Đốt đuốc đi học – Tô Ngọc Vân

Trong quá trình công tác ông đã được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương kháng chiến hạng Nhì; Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam; thư khen của Bác Hồ (1952) và chiếc áo Bác Hồ tặng (1954). Năm 1996 ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I cho các tác phẩm: Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ Phủ – Sơn dầu (1946); Hồ Chủ tịch làm việc – Khắc gỗ – 60x40cm (1947); Bộ đội nghỉ chân bên đồi – Sơn mài – 35×49,7cm (1948); Xưởng quân giới – Sơn dầu – 40x50cm (1951); Bừa trên đồi – Bột màu (1953); Bộ tranh ký hoạ về nông dân cải cách ruộng đất (1953); Bộ tranh ký hoạ về bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

www.vietnamfineart.com.vn

Bức tranh “Phù Vân” của Trần Quang Trân

Trong lịch sử hội họa Việt Nam hiện đại, Trần Quang Trân là một họa sĩ có một vị trí đặc biệt.

Bức bình phong “Bụi tre bóng nước” (1932, sáu cánh, mỗi cánh 110x25cm) của Trần Quang Trân đã được xem là bằng chứng đầu tiên khẳng định phẩm chất “hội họa” đích thực của cái gọi là “tranh sơn mài Việt Nam”.

Trong cuốn hồi ký (chưa bao giờ xuất bản) của ông, Trần Quang Trân cũng đã gọi bức tranh đó là một “phát minh”.

Bức tranh “Phù Vân”

Trên thực tế, Trần Quang Trân để lại rất ít tác phẩm. Ngoài một số tranh sơn dầu, thuốc nước, mực nho, ký họa chì than, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được bất cứ một bức tranh sơn mài nào khác của ông. Ngay bức “Bụi tre bóng nước”, bức sơn mài đầu tiên đã kể trên, trước thuộc bộ sưu tập của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cũng đã bị thất lạc đi đâu mất trong thời gian đầu kháng chiến chống Pháp.

Bởi vậy, bức tranh “Phù vân” giới thiệu ở đây, vốn thuộc sưu tập của họa sĩ Năng Hiển (Duy Nhất), nay thuộc sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Hà Nội, cũng thuộc hàng “của hiếm”, khi tìm về sự nghiệp hội họa của Trần Quang Trân.

Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân
Bức tranh Phù Vân của Trần Quang Trân

Đôi nét về Trần Quang Trân

Họa sĩ Trần Quang Trân (1900-1969), bút danh “Ngym”, sau đổi thành “Nghi Am”. Sinh ở huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông đã từng tham dự kỳ thi hương cuối cùng ở Bắc Kỳ (1915). Một thời gian làm thư ký Tòa sứ Tuyên Quang.

Tốt nghiệp Trường Thương mại, ông làm việc tại Sở dầu Hải Phòng và Nhà máy đèn Đáp Cầu.

1927-1932, ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 3. Nhờ có biết chữ Nho, ông làm trang trí rất đẹp (giải thưởng áp phích Đấu xảo Paris 1931). Đi vẽ ở Lào Cai (1929), ở Thanh Hóa, Nghệ An (1930).

Học nghề sơn ta qua nghệ nhân Đinh Văn thành, kết hợp nghiên cứu đồ sơn ở Viện Viễn Đông Bác Cổ, Trần Quang Trân đã sử dụng vàng quỳ rây vụn (bột vàng) và bột son trên nhiều lớp sơn, qua khâu mài, để tạo ra các sắc độ và ánh sáng. Đây chính là kỹ thuật nền tảng để sau đó các họa sĩ Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Gia Trí đã hoàn thiện và đẩy lên thành kỹ thuật sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie), làm nên một thời kỳ vàng son của hội họa sơn mài Việt Nam.

Ra trường, tại Hà Nội, ông mở xưởng sơn mài ở 87 phố Charron (nay là phố Mai Hắc Đế) và ở phố Tố Tịch, làm hàng và sửa chữa đồ cũ, đồng thời sáng tác một số tác phẩm trên đồ vị lợi, vẽ minh họa và phụ bản cho một số báo: “Bắc Kỳ Thể thao”, “Đông Tây”, “Tiểu thuyết Thứ Bảy”, “Cậu ấm”, “Vịt đực”. Đầu thập niên 1940, ông dạy vẽ ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long và từ 1949 ở Trường Mỹ nghệ.

1958-1962, Trần Quang Trân làm việc tại Xưởng phim truyện Việt Nam, Xưởng phim hoạt hình Việt Nam và tham gia giảng dạy tại Trường Điện ảnh Việt Nam.

Là một họa sĩ, nhưng Trần Quang Trân luôn luôn có phong thái của một nhà nho. Ông có sở thích vẽ sư sãi, các công trình kiến trúc cổ, cây cối, mặt nước, với bút pháp ngả về cổ điển. Bức tranh “Phù vân” là một thử nghiệm khá lạ của Trần Quang Trân, khi ông kết hợp kỹ thuật vẽ thuốc châu Âu với kỹ thuật đồ họa thư pháp Á Đông, để tạo ra được một kiểu không gian hư ảo như tiên giới, không Tàu mà cũng chẳng Tây, mang đậm một cảm thức thiền, gần gũi, không xa cách.

“Một Quãng Đường” – Nguyễn Thị Mai Thanh

Họa sĩ Nguyễn Thị Mai Thanh sinh năm 1958 ở Phú Thọ. Chị tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Mỹ thuật năm 1977, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1984 và có nhiều năm gắn bó với công tác giảng dạy. Dáng người mảnh khảnh, ăn mặc trẻ trung, năng động, đi đứng nhẹ nhàng, nói năng dịu dàng… dễ cho người đối diện hình dung một Mai Thanh khó có thể dữ dội với những nét bay thoáng hoạt và những hình ảnh trừu tượng dồn dập đầy cảm xúc trong những bức sơn dầu.

Tháng 6 - Nguyễn thị Mai Thanh
Tháng 6 – Nguyễn thị Mai Thanh

Chị tâm sự, triển lãm “Một quãng đường” diễn ra vào tháng 1/2016 tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như để trải lòng về “một chặng đường” lao động và sáng tạo trong hành trình khám phá với nghệ thuật hội họa. Một quãng hành trình để bay, để thả tâm hồn mình theo những trận gió, những chiếc lá, những cánh bướm, những đàn cá bơi… khát khao tự do trong tự do của bút pháp tạo hình không câu nệ vào những luật lệ.

Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG - Nguyễn Thị Mai Thanh - 2015
Tác phẩm NHỊP ĐIỆU TRẮNG – Nguyễn Thị Mai Thanh – 2015

Chị quan niệm, không có luật lệ nào cho nghệ thuật. Tác phẩm hội họa là nơi gửi gắm tâm hồn, không phải nơi phô diễn kỹ thuật; kỹ thuật vẽ là để phục vụ sự biểu đạt cảm xúc. Hội họa không phải là thứ để thay thế nghệ thuật minh họa. Nó cần được người xem cảm nhận bằng tâm hồn, cùng tham gia khám phá cái đẹp của ngôn ngữ tạo hình thông qua khả năng biểu cảm mang tính vật chất của chất liệu. Nó không cần sự cố gắng lý giải bằng một ngôn ngữ khác.

Tác phẩm NHẢY MÚA - Nguyễn Thị mai Thanh
Tác phẩm NHẢY MÚA – Nguyễn Thị mai Thanh

Một quãng đường” cũng có thể ví như là “một quãng bay” của Mai Thanh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy cảm xúc… tác phẩm thể hiện lối vẽ phóng tác từ cảm nhận thực tế nhưng không tả mà thiên về biểu đạt những ấn tượng cảm xúc của cá nhân về hiện thực. Tại triển lãm “Một quãng đường” lần này của chị tranh có khuynh hướng trừu tượng và khai thác nội tâm nhiều hơn.

Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh - Nguyễn thị mai thanh
Tác phẩm linh hồn của hành tinh xanh – Nguyễn thị mai thanh

Gắn bó với công tác giảng dạy tại khoa Sư phạm Mỹ thuật, trường Sư phạm Nhạc hoạ Trung ương (nay là trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW). Nhưng chị chỉ thực sự tập trung vẽ từ sau năm 2008. Họa sĩ Mai Thanh cũng đã tham gia một số triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Mỹ thuật Hà Nội như triển lãm Một nghìn năm Thăng Long Hà Nội, Mỹ thuật Toàn quốc năm 2010, triển lãm tranh cá nhân tại 16 Ngô Quyền Hà Nội năm 2011. Chị tham gia Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2012 và tới nay Triển lãm tranh “Một quãng đường” là kết quả sau 5 năm lao động từ triển lãm lần thứ nhất 2011.

Tác Phẩm Hồng Bay - Nguyễn Thị Mai Thanh
Tác Phẩm Hồng Bay – Nguyễn Thị Mai Thanh

Gần 40 tác phẩm của chị sẽ trưng bày trong triển lãm đầu xuân 2016 tại phòng triển lãm nghệ thuật của bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như một bức tranh đẹp của chị gửi đến đồng nghiệp, bạn yêu mỹ thuật, góp một sắc màu nhỏ nhoi trong bức tranh toàn cảnh lớn của Mỹ thuật Việt Nam.

Bức tranh “Cô lái đò” của vua Đồng Khánh

Gần đây, nhiều tác phẩm nghệ thuật Việt Nam lưu lạc trên khắp thế giới đã xuất hiện trở lại trước công chúng, thông qua các cuộc đấu giá quốc tế.

Một số bức tranh của Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị… – thực sự đã làm cho chúng ta sửng sốt, không chỉ vì những giá trị nghệ thuật đặc biệt cao, mà còn vì những khoản tiền lớn mà người ta đã phải bỏ ra để sở hữu được chúng.

Bức tranh cô lái đò
Bức tranh cô lái đò

Không chỉ có vậy. Thông qua các cuộc bán đấu giá, chúng ta còn có may mắn phát hiện thêm nhiều điều bất ngờ về nghệ thuật Việt Nam. Tại Paris, ngày 24 tháng 11 năm 2010, một bức tranh nhan đề “Déclin du jour” (Xế chiều) của vua Hàm Nghi, đã được tìm thấy và được đem bán đấu giá, với số tiền thu được là 8.800 euros. Đến nay, số tranh của vua Hàm Nghi để lại thống kê được khoảng 100 bức.

Qua một cuộc bán đấu giá khác của Sotheby’s, một bức tranh vẽ “Đại nội Huế” cũng đã được bán. Đây có thể là dịp may đầu tiên để phát hiện thêm một họa sĩ Việt Nam sống ở thời kỳ cận đại: vua Đồng Khánh, với bút danh ký trên tác phẩm là “Ưng Mông”.

Vua Đồng Khánh sinh ngày 12 tháng giêng năm Giáp Tý, tức ngày 19 tháng 2 năm 1864; lên ngôi ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu (19 tháng 9 năm 1885), ở ngôi được ba năm; băng hà ngày 27 tháng chạp năm Mậu Tý (28 tháng 1 năm 1889), khi mới 24 tuổi.

Như vậy, về mặt niên đại, vua Đồng Khánh đã vẽ tranh cách ngày nay ít nhất 127 năm, trước vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi chỉ bắt đầu đi vào hội họa sau khi ông từ Alger sang Paris và được xem một cuộc triển lãm hội họa của Gauguin (mà theo một số nguồn tư liệu thì cuộc triển lãm đó đã diễn ra vào năm 1899, tức là đúng mười năm sau khi vua Đồng Khánh mất).

Thêm nữa, nếu vua Hàm Nghi vẽ tranh ở nước ngoài, thì vua Đồng Khánh vẽ tranh hoàn toàn ở trong nước. Đây cũng là điểm khác nhau quan trọng giữa hai ông về mặt nghệ thuật.

bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh
Bức tranh cô lái đò của vua đồng khánh

Một bằng chứng thứ hai chắc chắn đã có được về hoạt động hội họa của vua Đồng Khánh – chính là một bức tranh hiện nằm trong sưu tập của ông Nguyễn Minh ở Thủ đô Hà Nội. Bức tranh được vẽ bằng sơn dầu trên toan, tình trạng tốt, khổ 36x50cm, có chữ ký “Ung Mong” (chữ quốc ngữ, không dấu) ở phía dưới bên phải, và chữ “sampanière” (tiếng Pháp, có nghĩa là “Cô lái đò”) ở phía dưới bên trái.

Bức tranh này đã được bán ở Paris, tại Nhà đấu giá Drouot Richelieu danh tiếng lâu đời của nước Pháp, mở hồi 13h30 ngày thứ tư 18 tháng 11 năm 2015, mang số 572, cùng phiên bán một số tác phẩm nghệ thuật châu Á khác như các tranh khắc gỗ Nhật Bản của Hokusai, Utamaro, Hiroshige…

***

Việc tìm hiểu lý do và quá trình lĩnh hội nghệ thuật hội họa của vua Đồng Khánh chắc chắn cần có thêm nhiều thời gian. Nhưng cái nhã thú về “thi họa” của các bậc văn nhân, nhất là của các ông hoàng bà chúa thì không có gì khó hiểu.

Riêng ở bức “Cô lái đò”, vua Đồng Khánh quả tình đã đi vào một đề tài mang tính đặc trưng giai thoại như thường thấy. Bức tranh làm chúng ta liên tưởng tới một số bức họa hiện nay vẫn còn trong các nội thất kiến trúc cung đình Huế.

Tuy nhiên, cách thể hiện ở đây lại tỏ rõ một học vấn và kỹ năng hội họa khá vững vàng của nhà vua, với tư cách của một họa sĩ ít nhiều có chuyên môn, hơn là của một người yêu nghệ thuật vẽ tranh. Phối cảnh đơn giản, mở ra một góc nhìn rộng về phía thượng nguồn sông Hương, trong không khí của một chiều lành lạnh, với hiệu quả “lam-bạc” phớt xanh của mặt nước.

Cô lái đò không phải là một thiếu nữ bình dân, mà có cốt cách của một quý cô. Và đây cũng là một điểm đáng ghi.

***

Vua Đồng Khánh là người không chống Pháp. Ông được coi là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, mà theo một số đánh giá nào đó, thì sự kiện này đã góp phần làm “nhỡ” bước đi của lịch sử dân tộc.

Sự phức tạp và mẫn cảm của tinh thần và tâm hồn con người, đặc biệt của một vị vua, trong những điều kiện đầy xáo động của lịch sử như vậy, luôn luôn cần được nhìn ở nhiều góc độ. Hy vọng là từ những dấu vết hội họa đầu tiên này của vua Đồng Khánh để lại, chúng ta sẽ ngày càng tìm thêm được những bằng chứng mới để hiểu thêm về một nhà vua, với tầm vóc thực của một con người

www.Vietnamfineart.com.vn