Triển lãm đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tại tòa nhà mới của trường, 102 phố Reinach (Hà Nội), khai mạc ngày thứ sáu 15 tháng 11 năm 1929, trên thực tế – cũng là cuộc triển lãm mỹ thuật đầu tiên có tác động đáng kể đến đời sống và công chúng đương thời.
Lúc ấy, tranh lụa và tranh sơn mài đều chưa ra đời.
“... Đó chỉ là tranh sơn mặt sàn sạn và gồ ghề. Đâu nhẵn và bóng lộn như ảnh mà công chúng thích. Các báo bình phẩm dè dặt. Người ta chê màu thuốc của Lê Phổ và Phan Chánh như ‘đất bùn’. Họ có ngờ rằng đó lại là một nhời khen không?”
Cũng về cuộc triển lãm ấy, tờ “L’Avenir du Tonkin”
(Tương lai Bắc Kỳ), đã đăng bài với dòng tít: “Một trường phái hội họa và điêu
khắc mới: Trường phái Việt Nam”, trong đó Yvonne Schultz viết: “ Cái trường
phái hội họa này, mà ngay bây giờ người ta có thể gọi là trường phái Việt Nam,
sẽ làm giàu cho Viễn Đông bằng những tác phẩm thích ứng với sự nhạy cảm của
người Việt Nam thế kỷ 20.”2
Về mặt lịch sử, quá trình phát triển của hội họa hiện
đại nói chung, của hội họa sơn dầu nói riêng, ở Việt Nam có khác xa so với ở Ấn
Độ, Trung Quốc hay Nhật Bản. Các nghệ sĩ Việt Nam, quả thực – đã “tiếp nhận”
các kỹ thuật hội họa phương Tây, nhất là kỹ thuật sơn dầu, trực tiếp qua các
họa sĩ Pháp (Victor Tardieu và Joseph Inguimberty) – như một phương tiện có
tính phổ quát – để xây dựng cho mình, một nền hội họa “đầu tiên”, mang tính
chất quốc gia, chuyên nghiệp, có tác giả, một nền hội họa bác học theo tinh
thần của thời đại mới, mà vẫn đảm bảo bám rễ sâu vào nguồn mạch văn hóa mỹ
thuật truyền thống đã phát triển rực rỡ hàng ngàn năm của dân tộc. Đó chính là
một quá trình đã khẳng định được sự đúng đắn của một chủ trương, tức là : “thực
hiện một diễn biến hiện đại trong sự kéo dài một nền nghệ thuật truyền thống”3,
và không nên hiểu theo cách thông thường điều đó như là một cuộc đối thoại đầy
căng thẳng giữa truyền thống và hiện đại. Việc “chấp nhận” các kỹ thuật hội họa
phương Tây, nhất là kỹ thuật sơn dầu, hẳn đã đặt ra trước các nghệ sĩ Ấn Độ,
Trung Quốc hay Nhật Bản, những vấn đề không chỉ có thể làm đảo lộn những thói
quen “tự thân”, mà còn có thể làm đảo lộn cả những quan niệm mang tính di
truyền của họ.
Ngay từ giai đoạn đầu (1925-1931) của nền mỹ thuật
hiện đại Việt Nam - “peinture à l’huile” đã ít nhiều có những sắc thái riêng
biệt, và tất nhiên, với những nội dung hết sức riêng biệt, được phản ánh qua
những tác phẩm có phong độ bậc thầy, với những tên tuổi như Nam Sơn, Lê Phổ,
Mai Thứ, Lê Thị Lựu...
Hơn thế, riêng đối với các nghệ sĩ Việt Nam, hội họa
sơn dầu, cùng với tất cả những khái niệm gắn liền với nó, trong cái vẻ bề ngoài
tưởng chừng như xa lạ với nghệ thuật cổ Viễn Đông, vô hình trung – đã trở thành
một hệ thống tham chiếu hữu hiệu, làm “bàn đạp” cho sự phát triển, thậm chí cả
sự phát hiện mới – các loại hình chất liệu mang biệt tính Việt Nam: lụa, khắc
gỗ, đặc biệt là sơn mài.
Thời kỳ “Đông Dương” (1925-1945), các họa sĩ Việt Nam
đã đi từ chủ nghĩa cổ điển, qua hiện thực – ấn tượng, và phần nào tiếp cận các
trường phái hậu ấn tượng và tân tạo. Riêng Tô Ngọc Vân đã sớm đưa hội họa sơn
dầu đến phong cách tượng trưng hiện đại, trên tinh thần dân tộc. Qua đóng góp
của ông, nghệ thuật vẽ tranh sơn dầu Việt Nam khả dĩ đã đạt đến trình độ mới
hơn, cả về quan niệm lẫn kỹ năng, nếu so với các họa sĩ quốc tế á Đông ở cùng
thời kỳ sáng tác.
Từ 1945 đến 1975, thời kỳ “Cách mạng – Kháng chiến”,
về căn bản, diễn biến của hội họa sơn dầu Việt Nam – chính là sự chuyển hóa
nhuần nhuyễn các thành tựu của thời kỳ trước sang khuynh hướng hiện thực xã hội
chủ nghĩa. Bằng cảm xúc mới, với những đề tài mới, các họa sĩ đã tìm lại được
lối diễn đạt trữ tình quen thuộc như đã trở thành truyền thống.
Từ 1975 đến nay, sau một giai đoạn quá độ để bước
sang thời kỳ “Đổi mới”, dựa trên những tiền đề mang đầy tính sáng tạo của những
bậc thầy như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, hội họa sơn dầu Việt
Nam đã vượt hẳn lên trước sơn mài và lụa: sôi động và cấp tiến, các nghệ sĩ trẻ
đã khai phóng chủ nghĩa hiện thực sang các hình thái hiện đại và tiền phong
(biểu hiện, tượng trưng, siêu thực, cực thực, trừu tượng, pop art, v.v.), thông
qua dấu nối hậu ấn tượng, tạo nên một trong những nguyên lý vận động cho quá
trình đổi mới của nền nghệ thuật Việt Nam đương đại, cởi mở với khu vực và thế
giới, bằng tính đa dạng mỹ học và sự biểu hiện cá nhân rõ rệt. Và lẽ đương
nhiên, những động thái của “quá trình thích nghi phức tạp” này, trong bối cảnh
toàn cầu hóa - vẫn còn là những vấn đề của thời gian.
Quang Việt
|