E-mail        Print        Font-size  
  • VÀI NÉT VỀ MỸ THUẬT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

    Trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế, mỹ thuật đã luôn luôn đi đầu và bước những bước tiến khá nhanh. Từ một dòng chảy có tính chủ lưu là sáng tác theo phương pháp hiện thực XHCN, mỹ thuật đã phát triển mạnh thành nhiều xu hướng tạo hình khác nhau như: Trừu tượng, Biểu hiện, Ngây thơ, Siêu thực, Cực thực... và vô số các phong cách cá nhân tự do, đa dạng. Bên cạnh đó, những thay đổi táo bạo mới mẻ về chất liệu và kỹ thuật cũng góp phần tạo nên sự phong phú cho ngôn ngữ bề mặt và cách biểu chất ở các thể loại như sơn dầu, sơn mài, giấy dó của thời kỳ này. Do vậy có thể gọi đây là thời kỳ tạo nên những bước ngoặt, những đột phá trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

    Cũng chính ở thời kỳ này, mỹ thuật trẻ Việt Nam cùng một lúc thể hiện sự chia tay dần dần với giai đoạn hiện thực cổ điển truyền thống trước đó để bước nhanh vào giai đoạn “hiện đại hoá”, hay còn gọi là môđéc hoá ngôn ngữ tạo hình, rất gấp gáp. Và ngay sau đó một bộ phận các nghệ sĩ trẻ đã nối kịp và nhập cuộc với dòng nghệ thuật đương đại quốc tế ở các hình thức nghệ thuật mới thuộc về hậu hiện đại như Pop- art, Sắp đặt, Trình diễn, Video- art, Digital- art...

    Sự thay đổi chuyển mình này của mỹ thuật Việt Nam là một quá trình hợp lý, tất yếu nằm trong sự thay đổi phát triển chung của xã hội Việt Nam, từ môi trường, lối sống, suy nghĩ, ứng xử cho đến những thay đổi mạnh mẽ hơn ngoài biên giới không gì đảo ngược được- đó là xu thế toàn cầu hoá. Mỹ thuật chịu sự ảnh hưởng, tác động nhiều chiều của bầu không khí này, và ngược lại nó cũng phản ánh bức xúc, tâm tư của con người trước những biến động của thời cuộc.

    Mười năm đầu của đổi mới- hội nhập là thời kỳ thăng hoa đặc biệt của hội họa. Thời kỳ này ghi lại dấu ấn bởi các triển lãm của các họa sĩ như Trần Trọng Vũ, Đặng Xuân Hoà, Hà Trí Hiếu, Hồng Việt Dũng, Nguyễn Quân, Lê Huy Tiếp, Lê Quảng Hà, Lê Thiết Cương, Quách Đông Phương, Đào Hải Phong, Hoàng Hồng Cẩm, Hoàng Phượng Vỹ, Đỗ Minh Tâm, Đinh Quân, Vũ Thăng... miền Trung có Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, miền Nam có Nguyễn Trung, Đỗ Hoàng Tường, Trần Văn Thảo, Đỗ Quang Em, Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Thanh Bình, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Trung Tín, Hồ Hữu Thủ...

    Mười năm sau, sự kiện nổi bật của đời sống nghệ thuật lại là các cuộc triển lãm với các hình thức nghệ thuật mới như sắp đặt, trình diễn của Trương Tân, Minh Thành Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Quang Huy, Trần Lương, Nguyễn Bảo Toàn, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Minh Phương, Đào Anh Khánh, Phạm Ngọc Dương, Lê Vũ, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Minh Phước, Nguyễn Trí Mạnh, Đinh Gia Lê, Nguyễn Ngọc Lâm, Lê Thừa Tiến, Đinh Khắc Thịnh, Lê Ngọc Thanh, Lê Đức Hải... Ngoài ra bắt đầu xuất hiện cả một lớp nghệ sĩ trẻ làm video- art như Lưu Trí Hiếu, Lê Trần Hậu Anh..., và trong lĩnh vực đồ họa quảng cáo có thêm khá nhiều gương mặt mới.

    Hội họa và đồ hoạ không ồn ào như trước, song vẫn phát triển lặng lẽ và chắc chắn, ghi thêm các tên tuổi như Nguyễn Bảo Toàn, Đinh Thị Thắm Phông, Đinh ý Nhi, Lý Trần Quỳnh Giang, Nguyễn Bạch Đàn, Trần Việt Phú, Mai Duy Minh, Mai Đắc Linh, Lê Quý Tông, Nguyễn Mạnh Hùng, Hà Mạnh Thắng, Vũ Đình Tuấn, Trần Quốc Tuấn, Đào Quốc Huy, Nguyễn Thị Chinh Lê, Phan Hải Bang, Tô Trần Bích Thuý...

    Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đã thực sự mở rộng cánh cửa, góp phần hữu ích cho sự phát triển của nghệ thuật. Bên cạnh những thành công nhìn thấy, mỹ thuật cũng bộc lộ cả những thế mạnh, thế yếu của mình: -mạnh ở bản năng, ở sự khéo tay, hồn nhiên và sở trường trang trí nhỏ, sáng tạo nhỏ; - yếu ở nội dung, ý tưởng, ở tư duy sáng tạo lớn.

    Đôi khi thế mạnh lại cũng chính là thế yếu, trở thành thế yếu. Do dựa chủ yếu vào bản năng, suy nghĩ đơn giản nên khá nhiều hoạ sĩ Việt Nam ít đi được dài trên con đường sáng tạo, mà thường nhanh chóng cạn kiệt ý tưởng. Thay vào đó, nhiều người dễ dãi, dễ sa vào con đường trang trí dân gian, lặp lại mình, tạo ra loại tranh dân gian đời mới trên sơn dầu, sơn mài, rất dễ thương mại hoá. Đây chính là một trong những nguy cơ làm cho mỹ thuật Việt Nam luôn mấp mé ở ranh giới giữa mỹ thuật và mỹ nghệ. Ranh giới này khá mong manh. Nếu bứt lên thành mỹ thuật thì cũng chỉ thường là mỹ thuật hạng thứ, với tình cảm vụn vặt, nội dung vụn vặt, khó chiếm lĩnh được đỉnh cao.

    Cũng do nằm ở ngoại biên các trung tâm nghệ thuật lớn trên thế giới, lại phát triển chậm và muộn, rồi yếu về tư duy lý thuyết, mạnh về khả năng ứng dụng thực hành, tất cả những điều này làm cho nền mỹ thuật Việt Nam qua các thời kỳ đều ở vị thế chịu ảnh hưởng, tiếp nhận ảnh hưởng để rồi phát huy tiếp biến thành của mình. Tuy nhiên, những đặc thù về môi trường địa - chính trị, sự khác biệt kỳ lạ về tâm sinh lý dân tộc và tài năng của các cá nhân đã làm cho mỹ thuật Việt Nam luôn có một hơi thở riêng, sức sống riêng, bản sắc riêng.

    Không nên so sánh các thời đại với nhau bởi mọi sự so sánh đều là vô nghĩa, khập khiễng. Cũng như không nên nhìn nhận mỹ thuật thời kỳ này bằng những con mắt lưu luyến thời kỳ khác. Hiểu như vậy, ta sẽ thấy mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm được rất nhiều việc, đã thành công rực rỡ. Mặc dù nhiều sự kiện còn mang tính thời sự, chưa ổn định, nhưng cũng đã đến lúc chúng ta cần tập hợp, tổng kết và đánh giá các giá trị một cách từ tốn, khoa học và chân xác.

    Sự nhìn nhận đánh giá này cần dựa trên cả những thước đo giá trị mới của thời đại mới chứ không thể chỉ bằng các thước đo giá trị cũ./.

    Bùi Như Hương
Share:         LinkHay.com