Lượt truy cập: 373327
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Sáu, 24/04/2009-10:24 AM)
BẢN QUYỀN TÁC GIẢ TRONG LĨNH VỰC MỸ THUẬT VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

I. Thoáng qua vấn đề bản quyền tác giả ơ Việt Nam

1. Mỹ thuật Việt Nam có truyền thống từ lâu đời. Những di sản văn hóa nghệ thuật - trong đó có nghệ thuật tạo hình - đã có từ mấy ngàn năm trên các di vật từ đồ đá, đồ gốm, đồ xương, đồ đồng, đồ sắt, đồ gỗ, vải lụa, sơn mài, sơn quang dầu, đồ trang sức... Tất cả các sản phẩm này hầu như không có tên tác giả. Thảng hoặc, chúng ta chỉ thấy trên đồ gốm Chu Đậu một vài cái tên như Bùi Thị, Đặng Huyền Thông hoặc những dấu hiệu mang tính ký hiệu để nói về một lò sản xuất nào đó. Trong đồ họa và hội họa, cho đến nay ta vẫn thấy còn rất nhiều tác phẩm mà nổi tiếng nhất là ở các làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàn (Hà Tây) miền Bắc, làng Sình (Huế) ở miền Trung. Tất cả đều không có tác giả vì vậy có thể nói trong hàng trăm năm qua Mỹ thuật Việt Nam về vấn đề bản quyền đã không được đặt ra đối với các tác phẩm của người sáng tác, và việc bảo vệ bản quyền cũng không thể thực hiện.

2. Mỹ thuật hiện đại Việt Nam được bắt đầu từ những thập niên đầu của thế kỷ XX khi thực dân Pháp tiến hành việc khai phá thuộc địa ở Đông Dương. Những nghệ sĩ Pháp và một số nghệ sĩ Việt Nam đã ký tên của mình trên các tác phẩm của mình trên các tác phẩm đồ họa và hội họa và một số tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc đã bắt đầu được lưu danh trên các bản thiết kế và ngày nay người ta mới biết được tác giả của một số tác phẩm đó. Tuy nhiên do số lượng các nghệ sĩ tạo hình, số lượng tác phẩm không nhiều và số triển lãm cũng chỉ mới bắt đầu mỗi năm chỉ vài ba cuộc. Vì vậy vấn đề bản quyền tác giả hoặc tranh chấp bản quyền tác giả trong giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1945 - Hai mươi năm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - chưa thấy có vấn đề gì mà báo chí hoặc dư luận đặt ra và vì vậy vấn đề bản quyền tác giả vẫn chưa thành vấn đề được quan tâm.

3. Việt Nam đã trải qua 30 năm chiến tranh từ 1945 đến năm 1975. Đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức nô lệ của thực dân cũ và thực dân mới. Trong thời kỳ kháng chiến, mọi người dân Việt Nam đều đặt mình trong vị trí người công dân có trách nhiệm chiến đấu, lao động sản xuất làm việc cho Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi các họa sĩ nhân Triển lãm Hội họa năm 1951 tại Việt Bắc đã viết: “Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Các nghệ sĩ tạo hình đã dùng nghề nghiệp của mình để phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến như: vẽ tranh, nặn tượng, vẽ tranh cổ động, minh họa báo chí, vẽ tiền, vẽ tem,... đều được coi là một nhiệm vụ mà cách mạng giao phó, các tác phẩm đều có tên tác giả nhưng vấn đề bản quyền không một nghệ sĩ nào đặt ra bởi họ quan niệm tác phẩm của mình được sử dụng, được in ấn, được nhân bản, được vẽ lại đều là một vinh dự, một hành động cụ thể đóng góp cho kháng chiến. Trong suốt thời gian này, vấn đề bản quyền tác giả cũng không được đặt ra trong giới nghệ sĩ và trong nhân dân.

4. Năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới và thực hiện quản lý quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc hội nhập quốc tế không những chỉ về kinh tế mà còn cả văn hóa nghệ thuật. Thị trường tranh ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập Quốc tế. Nhiều nghệ sĩ tạo hình đã trở thành những nghệ sĩ tự do, không làm trong các cơ quan nhà nước, họ sống bằng tác phẩm sáng tác của mình, mặt khác tác phẩm đã bắt đầu có giá trong thị trường trong nước và Quốc tế. Vì vậy, những hiện tượng như sao chép tranh, làm tranh giả, làm tranh mạo danh, sử dụng tác phẩm tùy tiện không quan tâm đến quyền lợi của tác giả đã xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng. Vấn đề bản quyền tác giả đã được đặt ra một cách nghiêm túc từ pháp luật đến dư luận xã hội.

Hiến pháp năm 1992 đã đặt ra vấn đề: “Nhà nước bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”. Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có: “Quy định về quyền tác giả, đối tượng quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, phân chia quyền tác giả”. Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005 đã quy định “Điều kiện Bảo hộ quyền tác giả là Quyền liên quan” nội dung, giới hạn quyền bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan, chứng nhận quyền tác giả và quyền liên quan. Nhà nước cũng có một số Luật, Pháp lệnh, Nghị định về những vấn đề có liên quan đến bản quyền tác giả.

Trong những năm gần đây, cùng với công cuộc đổi mới, các ngành văn học nghệ thuật trong đó có Mỹ thuật đã có bước phát triển mạnh cả về đội ngũ, chất lượng sáng tác, công bố tác phẩm và đặc biệt là việc mua bán các tác phẩm Mỹ thuật, sử dụng các tác phẩm trên các ấn phẩm và truyền hình.

Hiện nay, trong cả nước có khoảng gần một vạn họa sĩ, nhà điêu khắc được đào tạo trong các trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nghệ thuật Huế, các trường Trung học nghệ thuật của các địa phương, các trường Cao đẳng sư phạm nhạc họa, các khóa học ngắn hạn và tự học. Hàng năm trong cả nước tổ chức trung bình 300 cuộc triển lãm lớn nhỏ (con số từ năm 1997 - 2000) và khoảng 20 cuộc triển lãm Mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài. Trên truyền hình và các báo hàng ngày, hàng tuần đều có giới thiệu các tác phẩm Mỹ thuật. Các sách Mỹ thuật mang tính giới thiệu tác phẩm chọn lọc ngày càng được xuất bản nhiều ở trong nước và cả ở nước ngoài. Nhiều chất liệu, phong cách sáng tác từ Mỹ thuật truyền thống đến Mỹ thuật hiện đại của nhiều quốc gia cũng được du nhập và thử nghiệm. Có thể nói bức tranh toàn cảnh về Mỹ thuật trong thời kỳ đổi mới là rất đa dạng và đáng khích lệ.

5. Hội Mỹ thuật Việt Nam là một tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp được thành lập từ năm 1957, cho đến nay đã tập hợp được hơn 1.500 nghệ sĩ tạo hình trong đội ngũ của mình trong đó gần 70% thuộc ngành Hội họa, số còn lại là các ngành Đồ họa, Điêu khắc, trang trí và Phê bình Mỹ thuật.

Trong chức năng nhiệm vụ của Hội đã được đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V thông qua và được Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ phê duyệt trong quyết định số 02/2000 BTCCBCP ngày 6/1/2000 trong đó có điều II ghi rõ:

Điều II mục 2.3: Hội tổ chức, tập hợp, động viên các nhà Mỹ thuật, hoạt động sáng tác trên tinh thần phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa nghệ thuật thế giới nhằm tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, xây dựng nền Mỹ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Mục 2.4: Hội Mỹ thuật Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên về chính trị, xã hội và hành nghề theo qui định của pháp luật.

Như vậy, Hội Mỹ thuật Việt Nam có chức năng và nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên trong đó có vấn đề quyền tác giả trong Mỹ thuật. Tuy nhiên để làm tốt công tác bảo vệ quyền tác giả trong Mỹ thuật, chúng ta cần phải có một bộ luật về vấn đề này, nó sẽ là cơ sở, là hành lang pháp lý để giải quyết những vướng mắc có liên quan. Vì vậy, Hội Mỹ thuật Việt Nam rất hoan nghênh Cục Bản quyền tác giả và Vụ Mỹ thuật tổ chức cuộc hội thảo “Quyền tác giả trong lĩnh vực Mỹ thuật tạo hình” chủ trương xây dựng bộ luật “Quyền tác giả trong lĩnh vực Mỹ thuật tạo hình” đó là một việc làm cần thiết bởi trong tình hình hiện nay việc vi phạm bản quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình đang xảy ra tuy không bức xúc như của ngành âm nhạc nhưng Hội chúng tôi vẫn thường xuyên nhận được ý kiến của các hội viên đến Ban lãnh đạo Hội (bằng đơn hoặc bằng miệng).

II. Thực trạng về bản quyền tác giả ở Việt Nam

Sau ngày Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đặc biệt là sau những năm 90 thế kỷ 20 đến nay, vấn đề bản quyền trong tác giả đã trở thành vấn đề lớn được giới mỹ thuật hết sức quan tâm nhưng còn nhiều vướng mắc trong biện pháp giải quyết.

1. Sao chép tranh

Hiện tượng nổi bật nhất trong việc về vi phạm bản quyền trong mỹ thuật là vấn đề sao chép tác phẩm để bán ở thị trường trong nước và nước ngoài. Việc sao chép này chủ yếu đối với các tác giả nổi tiếng như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí ... lớp họa sĩ thế hệ đầu của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, hoặc của các họa sĩ thuộc thế hệ kháng chiến, thế hệ đổi mới.

- Sao chép để kinh doanh buôn bán: Việc sao chép, ký tên tác giả - thực chất là tranh giả - phần lớn bán ở trong nước theo lối từ những bộ sưu tập riêng hoặc bán đấu giá như trường hợp đã xảy ra ở Singapore với tác phẩm của Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, hoặc ở Hồng Kông như tác phẩm của Bùi Xuân Phái như báo chí đã nêu lên, gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái lên tiếng kiện công ty bán đấu giá của Anh. Đối với các họa sĩ có tác phẩm bán được nhiều cũng bị làm giả như các trường hợp của họa sĩ Thành Chương, anh cho biết không những chỉ vẽ lẻ tẻ mà còn có cả một xưởng chuyên làm tranh như vậy, anh chỉ nhắc nhở nhưng vì quen biết nên tác giả cũng cho qua.

Đây là một vấn đề hết sức bức xúc đối với giới Mỹ thuật hiện nay. Chúng ta biết rằng ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số thành phố lớn có không ít những cửa hàng chuyên sao chép tranh. Các tranh họ sao chép phần lớn theo sách hoặc catalogue của tác giả nước ngoài - phần lớn là các tác giả cổ điển hoặc hiện đại nhưng sáng tác đó đều khoảng nửa đầu thế kỷ XX, tuy nhiên về mặt luật quốc tế vấn đề này được qui định như thế nào chúng ta cũng cần phải nghiên cứu để phổ biến rộng rãi cho những người sao chép tranh biết.

Đặc biệt bức xúc là việc sao chép tranh của các tác giả Việt Nam để bán ở các cửa hàng tranh, bán tại nhà, tại các khách sạn. Hội Mỹ thuật Việt Nam thường nhận được những thông tin của các tác giả và của gia đình tác giả đã mất có ý kiến về vấn đề này. Các tác giả có tranh bị sao chép nhiều thường là những tác giả nổi tiếng như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Khang, ... họ ngang nhiên bày bán hoặc bán theo lối bí mật để đề cao tác phẩm dởm. Chúng ta đã từng nghe thông tin về việc người nước ngoài phản ứng khi họ mua phải tranh dởm, nhưng chưa có biện pháp nào để giải quyết.

- Trên một số gallery ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Mình và Hội An chúng ta thấy rất nhiều tranh được chép lại tác phẩm của các tác giả đã in trong sách và các vựng tập triển lãm hoặc chụp ảnh tranh từ các triển lãm để sao chép, ký giả chữ ký của tác giả hoặc ký bằng một tên riêng nào đó để bán cho khách. Đây là trường hợp khá phổ biến, nhiều hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam phản ánh về cho Hội.

- Việc sao chép tranh của nước ngoài nhưng ký tên mình cũng đã xảy ra đó là trường hợp một họa sĩ đang học trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, vẽ lại bức tranh của họa sĩ Liên Xô sáng tác cách đây nhiều năm, trong tranh có sửa đổi đôi chút để Việt hóa gửi đến triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc được Hội đồng chấm giải tặng huy chương Đồng. Khi bị phát hiện và báo chí lên án, tác giả đã bị thu lại huy chương. Trường hợp một họa sĩ trẻ vẽ lại tranh của họa sĩ Achentina ký tên mình gửi in trong cuốn sách tuyển tập tác phẩm của Hội Mỹ thuật Hà Nội. Khi bị phát hiện, Hội Mỹ thuật Hà Nội đã kỷ luật tác giả này. Hai ví dụ trên cho thấy một số rất ít tác giả Việt Nam đã lợi dụng các tác phẩm của nước ngoài ít người biết tới để làm thành tranh của mình dự triển lãm. Đây là một dạng vi phạm bản quyền đối với tác giả nước ngoài.

2. Mạo danh tác giả :

Trong hoạt động Mỹ thuật còn có trường hợp thường xảy ra đó là mạo danh tác giả. Trường hợp này là không phải sao chép lại tranh mà sáng tác của họ dựa trên những đặc trưng bút pháp của các tác giả nổi tiếng hoặc bán được tranh để sáng tác tranh mới có cùng phong cách và ký tên tác giả đó nhằm lừa dối người mua với giá cao. Việc mạo danh tác giả làm khá tinh vi kể từ việc chuẩn bị vật liệu có thời gian trùng với các tác giả đã dùng. Trường hợp này tôi được biết đối với các tác giả Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, đã có lần tác giả Nguyễn Tư Nghiêm nói với tôi rằng có nhiều người mua tranh mang chữ ký của ông nhưng ông xác định không phải tranh của mình. Trên thế giới nhiều trường hợp mạo danh tác giả mà báo chí đã đăng cho thấy những người mạo danh cũng có trình độ nghệ thuật cao, đánh lừa được cả những chuyên gia thẩm định.

3. Sao chép để sản xuất hàng loạt. Trường hợp này thường xảy ra đối với các tác giả điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, đồ họa đó là những tác phẩm của các tác giả Việt Nam. Thông thường là các tác phẩm Điêu khắc nhỏ, đồ gốm, đồ dệt, đồ sơn mài, đồ gỗ, trang sức, thời trang, tranh khắc để đưa vào sản xuất hàng loạt mà không xin phép tác giả và không trả nhuận bút cho tác giả (giống như bên âm nhạc các ca sĩ biểu diễn mà không trả tiền nhuận bút cho tác giả sáng tác).

4. Sử dụng ảnh trong tác phẩm mỹ thuật.

Trong thời kỳ kháng chiến, rất nhiều tác giả mỹ thuật sử dụng ảnh của các nhà nhiếp ảnh để bố cục tranh, tượng hoặc vẽ tranh cổ động (Nhiều bức ảnh không có tên tác giả mà chỉ có một tên chung ví dụ như Thông tấn xã Việt Nam). Vào thời kỳ đó vấn đề bản quyền chưa được đặt ra nên chưa có sự tranh chấp giữa tranh và ảnh. Trong những năm gần đây, vấn đề này gây nên những vụ kiện cáo giữa tác giả ảnh với tác giả mỹ thuật đặc biệt là những tác phẩm mỹ thuật được giải. Gần đây Cục Mỹ thuật - Nhiếp ảnh và Triển lãm đã có quy định về vấn đề này.

5. Vấn đề chuyển đổi chất liệu trong tác phẩm mỹ thuật

Đối với một nghệ sĩ việc tự mình chuyển đổi chất liệu cho tác phẩm và tiếp tục sáng tạo trên chất liệu mới không thành vấn đề. Tuy nhiên ở Việt Nam đã có hiện tượng cá nhân hoặc cơ quan tự động chuyển đổi chất liệu tác phẩm mà không hỏi tác giả hoặc đặt tác giả chuyển đổi, đặc biệt đối với một số cơ sở sản xuất thủ công họ tùy tiện chuyển đổi tranh sơn dầu, sơn mài, tranh khắc gỗ của các tác giả thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như tranh ghép lá, tranh đá quý, tranh thêu ... mà tác giả không hề được hỏi ý kiến, làm méo mó tác phẩm. Vấn đề này cũng là vi phạm quyền tác giả.

6. Đối với các tác phẩm tượng đài: Những năm gần đây có hiện tượng kiện cáo về bản quyền tác giả trong những trường hợp đó gần giống nhau về nội dung và bố cục tác phẩm nhưng không xử lý được. Việc để xảy ra các hiện tượng trên là do mỗi tượng đài đều có một hội đồng riêng, không quán xuyến được những tượng đài đã và đang xây dựng. Ngoài việc bản quyền còn có vấn đề nhiều tác phẩm điêu khắc tượng đài sau khi xây dựng xong người ta có cảm giác gần nhau về bố cục và phong cách (đặc biệt là các tượng đài chiến tranh cách mạng và thanh niên xung phong, danh nhân).

Có trường hợp quá trình thi tuyển mẫu tượng đài, các tác giả rủ nhau cùng làm (có thể có người làm một mẫu riêng) nhưng khi chọn được mẫu để thể hiện thì tượng đài được đứng tên người trưởng nhóm chứ không đứng tên đồng tác giả (mà thực chất mẫu phác thảo đó là của người khác trong nhóm) đã xuất hiện việc tranh chấp quyền tác giả tượng đài giữa người đứng tên tác phẩm ghi trong văn bản với người sáng tác mẫu khi kê khai thành tích sáng tác lại ghi tượng đó là của mình.

7. Về vấn đề phóng to, thu nhỏ tác phẩm:

Đối với Điêu khắc đặc biệt là tượng đài bao giờ cũng phải qua các mẫu phác thảo nhỏ khi được duyệt mới phóng lớn. Việc phóng lớn các tác phẩm Điêu khắc (tượng đài) không phải chỉ là công việc đơn thuần theo lối cơ học mà thực chất trong quá trình phóng lớn các tác giả tiếp tục quá trình sáng tác của mình để hoàn thiện tác phẩm, vì vậy việc thực hiện phóng lớn đối với các tượng đài trước hết là quyền của tác giả, trường hợp tác giả đồng ý ủy nhiệm cho một nhóm Điêu khắc khác thực hiện thì tác giả vẫn có trách nhiệm theo dõi. Việc đấu thầu thực hiện các tượng đài cần được coi là ở phần kinh tế, tuy nhiên trước hết phải ưu tiên và tôn trọng ý kiến của các tác giả đó để đảm bảo chất lượng của tác phẩm. Đây cũng là vấn đề bản quyền tác giả cần được quan tâm.

- Đối với tranh hoành tráng cũng cần nhận thức tương tự.

8. Về vấn đề sử dụng tác phẩm trong in ấn sách, báo, tạp chí:

Trong nhiều năm trước đây do điều kiện kinh tế có khó khăn và việc in ấn sách, báo, tạp chí không nhiều, nên hình thành một quan niệm việc in ấn tác phẩm là một ưu ái đối với tác giả. Từ sau thời kỳ đổi mới, sách, báo, tạp chí ngày càng nhiều, tuy nhiên việc sử dụng các tác phẩm vẫn theo nếp cũ: không xin phép tác giả, không gửi nhuận bút, không tặng báo chí cho tác giả làm cho nhiều tác giả không hài lòng và có ý kiến với Hội.

Theo chúng tôi, trong cơ chế thị trường - định hướng xã hội chủ nghĩa - việc in ấn tác phẩm trên sách, báo chí có thể chia làm ba loại: loại tác giả tự bỏ tiền để in ấn, loại tác giả tự bỏ tiền để in trong các quảng cáo, loại các cơ quan xuất bản, báo chí có yêu cầu sử dụng.

9. Về việc các cơ quan xuất bản, báo chí có yêu cầu sử dụng trong ấn phẩm của mình có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất yêu cầu tác giả gửi đến cho cơ quan mình, loại thứ hai sử dụng các tác phẩm qua ảnh hoặc đã được in trong các sách Mỹ thuật.

- Trường hợp thứ nhất: Các cơ quan xuất bản báo chí yêu cầu tác giả gửi ảnh tác phẩm hoặc đặt các tác giả vẽ thì các cơ quan đó cần thống nhất với các tác giả những vấn đề có liên quan đến vấn đề quyền tác giả như trả nhuận bút, tặng biếu sách, báo hoặc những vấn đề khác.

Trường hợp thứ hai: Sử dụng các tác phẩm qua ảnh hoặc đã được in trong các sách Mỹ thuật : Người sử dụng cần trao đổi với tác giả, được sự đồng ý của tác giả với các điều kiện kèm theo. Tôi đã được tiếp xúc với một tác giả người Mỹ viết cuốn sách giới thiệu về Mỹ thuật Việt Nam, phần các phiên bản (ảnh chụp tranh, tượng, ...) Nhà xuất bản ở Mỹ yêu cầu tác giả đó phải có giấy xác nhận đồng ý của tác giả, của gia đình tác giả hoặc của người đang sở hữu tác phẩm đó mới được in trong cuốn sách.

Vấn đề trên cũng được tôn trọng quyền tác giả vì hiện nay một số cơ quan xuất bản, báo chí vẫn tùy tiện sử dụng tác phẩm gây bức xúc cho tác giả. Tôi được biết ở nước ngoài mỗi khi đưa tác phẩm vào sách các nhà xuất bản đều phải làm thỏa thuận với tác giả.

10. Về vấn đề sử dụng tác phẩm (bản chính)

Sử dụng tác phẩm (bản chính) thường nằm ở hai dạng: Tác giả bán tác phẩm đó cho người mua (cho cá nhân, cho người buôn tranh hoặc cho bảo tàng) và trưng bày tác phẩm trong các triển lãm chung có tính tập thể.

- Đối với tác phẩm bán cho cá nhân: thì quyền sở hữu thuộc về người mua vậy quyền tác giả sẽ được hưởng như thế nào khi tác phẩm đó được sử dụng để trưng bầy, in ấn, chuyển nhượng?

- Đối với các tác phẩm bán cho những người buôn bán tranh (tất nhiên đã bán quyền sử dụng) thì tác giả có được quyền biết về sự chuyển nhượng các tác phẩm đó không?

- Đối với tác phẩm được các bảo tàng mua và lưu trữ - đặc biệt là các bảo tàng Việt Nam thì quyền sử dụng thuộc bảo tàng nhưng quyền tác giả được những gì khi in ấn các tác phẩm đó trên sách và báo chí, sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng và quyền của tác giả được biết việc lưu trữ bảo quản tác phẩm của mình như thế nào? Tác giả có quyền được sao chụp để làm tư liệu hoặc in ấn, được ưu tiên gì trong vấn đề này? Vừa qua một số tác giả có tác phẩm ở bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khi chụp tranh tượng của mình lưu trữ tại bảo tàng đều phải nộp một khoản lệ phí. Như vậy đã hợp lý chưa? Các tác phẩm khi được bảo tàng in ấn tác giả có được nhận nhuận bút nữa hay không?

11. Về vấn đề đăng ký bản quyền tác giả:

Chúng tôi được biết hiện nay Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch có Cục Bản Quyền Tác giả tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký đăng ký bản quyền tác giả đối với những tác phẩm văn học nghệ thuật. Tuy nhiên là người công tác ở Hội, tôi thấy các tác giả Mỹ thuật đăng ký không nhiều, đặc biệt là đối với những tác giả thành danh. Các tác phẩm của các tác giả Mỹ thuật thường có số lượng lớn, được sáng tác liên tục nên ngại việc đăng ký bản quyền tác giả.

Khi có sự xâm phạm bản quyền tác giả, hiện nay chưa có cơ quan đứng ra phân xử. Được biết ở một số nước hoặc ở nước ta hiện nay đã tổ chức một số Hiệp hội bảo vệ bản quyền. Tuy nhiên khi tôi ở Thụy Sỹ thì được biết chỉ có các Hiệp hội về Văn học, về Sân khấu, về Điện ảnh, về Âm nhạc, hoặc ở Việt Nam đã có Hiệp hội Bản quyền về Văn học và âm nhạc mà không có Hiệp hội bảo vệ Bản quyền Mỹ thuật. Là người công tác ở Hội Mỹ thuật Việt Nam, tôi hiểu các hiệp hội nói trên được thành lập không chỉ bảo vệ quyền tác giả mà họ còn có điều kiện thu kinh phí cho tác giả và cho Hiệp hội tồn tại và phát triển thông qua việc thu phí bản quyền khi sử dụng tác phẩm. Còn ở mỹ thuật, các tranh chấp quyền tác giả chủ yếu là nằm ở khâu tranh giả, tranh nhái. Việc thu phí từ bản quyền tác phẩm là không đáng kể vì vậy không có kinh phí để nuôi bộ máy hoạt động của hiệp hội bản quyền mỹ thuật. Trong hội thảo này chúng tôi hy vọng Hiệp hội Phát triển Bản quyền Na Uy cho chúng ta thêm kinh nghiệm về vấn đề này.

12. Về tranh chấp bản quyền tác giả:

Hiện nay trong giới mỹ thuật Việt Nam vẫn phát hiện những trường hợp vi phạm bản quyền tác giả như bán tranh chép, tranh giả, mạo danh, ... và những vấn đề khác như trên đã nêu nhưng không có một cơ quan nào đứng ra giải quyết đến nơi đến chốn. Vì vậy, một số tác giả tuy rất bực mình nhưng lại tặc lưỡi cho qua bởi họ không biết dựa vào ai, dựa vào đâu để tố cáo, đề nghị giải quyết.

Trên đây là một số hiện tượng của thực trạng về bản quyền mỹ thuật ở Việt Nam mà hội thảo này chúng ta cần trao đổi và đề xuất những giải pháp.

III- Một số đề xuất giải pháp thực hiện quyền tác giả mỹ thuật ở Việt Nam

Để vấn đề bản quyền mỹ thuật được thực hiện tốt ở Việt Nam theo chúng tôi cần phải nhấn mạnh đến các giải pháp sau:

1. Tổ chức tuyên truyền rộng rãi những văn bản pháp luật có liên quan đến sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả và quyền liên quan trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan đoàn thể, nhân dân, và các nghệ sĩ tạo hình nắm vững những vấn đề cơ bản mà pháp luật về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đã quy định để mọi người cùng thực hiện.

2. Lên án các hành vi vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong lĩnh vực mỹ thuật đối với những cá nhân, tập thể có sai phạm qua các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng để ngăn chặn các hành vi vi phạm, tạo dư luận xã hội phản ứng các hành vi vi phạm.

3. Các nghệ sĩ tạo hình cần mạnh dạn phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong mỹ thuật. Phải làm cho những người lâu nay không tôn trọng quyền tác giả trong mỹ thuật hoặc đang hành nghề mỹ thuật bằng các hành vi vi phạm quyền tác giả thấy được những vi phạm nghiêm trọng của mình để sớm chấm dứt mọi hành vi xấu, vi phạm pháp luật.

4. Chúng tôi cho rằng việc sao chép tranh để kinh doanh là điều cần phải cấm và có biện pháp cụ thể để giải quyết trên cả hai đối tượng người chép tranh và người bán tranh. Các cơ quan thanh tra văn hóa của Bộ và của các tỉnh thành cần thường xuyên kiểm tra các gallery, các khách sạn buôn bán các loại tranh chép có hình thức xử phạt thích đáng, tịch thu các loại tranh đó, kể cả việc rút giấy phép kinh doanh và đưa ra pháp luật.

5. Tiến hành xử phạt nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan đối với quyền tác giả trong mỹ thuật. Cần phải đưa ra tòa án những trường hợp vi phạm nghiêm trọng; Riêng đối với Hội Mỹ thuật Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật ở địa phương cần có hình thức kỷ luật nghiêm khắc đối với các hội viên bằng hình thức khai trừ, xóa tên nếu các hội viên đó vi phạm bản quyền tác giả và các quyền có liên quan.

Cần chỉ rõ cơ quan nào sẽ xử lý các vi phạm bản quyền tác giả trong mỹ thuật để các nghệ sĩ tạo hình biết và đề nghị giúp đỡ.

6. Hiện nay vấn đề đăng ký bản quyền tác giả đã được đưa vào luật nhưng tuyệt đại đa số tác giả có tên tuổi vẫn không quan tâm đến vấn đề này. Vì vậy chúng ta cần phổ biến, khuyến khích các tác giả đăng ký bản quyền tại Cục Bản quyền Tác giả để khi tranh chấp có cơ sở giải quyết.

7. Tiến tới thành lập Trung tâm bảo vệ bản quyền tác giả Mỹ thuật trực thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam hoặc là một cơ quan độc lập, tự hạch toán nhằm tổ chức một cơ quan có chức năng theo dõi, phát hiện, đề xuất, nhằm góp phần xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả.

8. Cần tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước khác để từng bước giải quyết vấn đề bảo vệ bản quyền tác giả mỹ thuật ở Việt Nam vừa phù hợp với đặc trưng Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Trên đây là một số nhận định về vấn đề bản quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật ở Việt Nam, những tồn tại và đề xuất giải pháp giải quyết. Chúng tôi hy vọng qua hội thảo “Hội thảo về bản quyền tác giả mỹ thuật Việt Nam - Thực trạng và Giải pháp” lần này sẽ tạo nên mối quan tâm mạnh mẽ của người dân đặc biệt trong giới mỹ thuật góp phần làm cho vấn đề bản quyền mỹ thuật Việt Nam lành mạnh, hội nhập với thế giới.

TRẦN KHÁNH CHƯƠNG
Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam

[ Các bài mới ]
[ Các bài đã đăng ]