Cục Bản quyền tác giả rất hoan nghênh cuộc hội thảo này. Đây là một hội thảo rất kịp thời và có ý nghĩa thiết thực để thực hiện Chỉ thị số 36 ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiến hành các hội nghị quán triệt và triển khai Chỉ thị này của Thủ tướng Chính phủ. Đầu tháng 3 đã tổ chức 2 Hội nghị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho các đối tượng tại các khu vực Bắc Bộ và Nam Bộ; ngày 1 tháng 4 tới đây sẽ tiến hành hội nghị triển khai Chỉ thị 36 cho các tỉnh miền Trung tại Huế.
Tác giả là người sáng tạo nên tác phẩm. Chính vì vậy, tác giả cần phải được hưởng thành quả lao động sáng tạo của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ cho người sáng tạo, người phổ biến, người bảo tồn tác phẩm và di sản văn hóa. Bảo hộ quyền tác giả là biện pháp hữu hiệu khuyến khích lao động sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội, đồng thời là động lực phát triển kinh tế tại mỗi quốc gia.
Kinh nghiệm xưa nay cho thấy, sự giàu có của di sản văn hóa quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào mức độ và chất lượng bảo hộ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Số lượng các sáng tạo trí tuệ của quốc gia càng nhiều thì uy tín và vị thế của quốc gia ấy trên trường quốc tế càng cao. Số lượng các tác phẩm văn học và nghệ thuật càng tăng thì càng có thêm cơ hội và điều kiện để phát triển ngành công nghiệp bản quyền.
Hội thảo hôm nay cũng là một trong những sự kiện chào mừng Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4. Từ năm 2001, cứ đến ngày 26 tháng 4, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO và tất cả các nước thành viên tiến hành kỷ niệm Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới với nhiều hoạt động và sự kiện có ý nghĩa. Những hoạt động và sự kiện này nhằm nâng cao sự hiểu biết của công chúng về quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích hoạt động sáng tạo và đổi mới. Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới là một cơ hội lớn để thu hút mối quan tâm của công chúng cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng tới các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền tác giả nói riêng.
Hàng năm, cứ gần tới ngày này, Tổng Giám đốc WIPO lại phát đi một thông điệp gửi tới tất cả các nước thành viên. Thông điệp của Tổng Giám đốc WIPO mỗi năm mang một chủ đề riêng. Năm 2006, ông viết: “Các ý tưởng tạo nên hình hài của thế giới chúng ta. Đó là nguyên liệu để tạo ra của cải và di sản mai sau của chúng ta. Điều này cắt nghĩa tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường mới trong đó các ý tưởng sáng tạo được khuyến khích và được thưởng công xứng đáng. Và đó cũng là lý do để sở hữu trí tuệ tồn tại”. Vào ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2007, ông phát đi thông điệp với chủ đề “Khuyến khích sáng tạo - khích lệ các tài năng sáng tạo và đổi mới đang tạo dựng thế giới và tương lai của chúng ta - đó là mục đích cuối cùng mà sở hữu trí tuệ đang phụng sự “. Còn chủ đề của Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2008 là: “ Tôn vinh sự đổi mới, sáng tạo và khuyến khích tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Thông điệp năm 2008 đặc biệt nhấn mạnh tới “quyền sở hữu trí tuệ” khi nêu: “Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới, chúng ta không chỉ tôn vinh sức mạnh vĩ đại của sự sáng tạo của nhân loại mà còn tôn vinh cả các quyền sở hữu trí tuệ đã giúp nuôi dưỡng và mở đường cho sức sáng tạo, làm cho nó trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội” và: “Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới chúng ta hãy bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với tất cả các nhà sáng tạo, các tác giả và các nghệ sĩ, dù lớn hay nhỏ, vì họ đã làm giàu cho cuộc sống của chúng ta bằng những thành quả của tư tưởng đổi mới và tầm nhìn sáng tạo của họ. Chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng, các quyền sở hữu trí tuệ mà họ đã có được bằng tài năng cá nhân và tập thể của họ đáng được chúng ta khâm phục, tôn trọng và bảo vệ”.
Điểm mấu chốt trong thông điệp năm 2008 của Tổng Giám đốc WIPO chỉ ra rằng, chúng ta cần tôn trọng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả, bằng các hành động cụ thể, thực tế, chứ không thể chỉ bằng lý thuyết suông. Phải đi từ nhận thức đúng đắn đến ý thức thực thi nghiêm chỉnh.
1. Các quy định của pháp luật về quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật
a) Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật
Ngày 26 tháng 10 năm 2004, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật chính thức có hiệu lực tại Việt Nam. Công ước Berne quy định các nước áp dụng công ước này hợp thành một Liên hiệp để bảo hộ các quyền của tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.
Mỗi quốc gia tham gia Công ước sẽ công nhận và bảo hộ bản quyền các tác phẩm của tác giả các nước khác trong Liên hiệp. Việt Nam là thành viên thứ 156 của Liên hiệp Berne. Từ khi trở thành thành viên của Công ước Berne, Việt Nam phải bảo hộ quyền tác giả cho các tác giả và chủ sở hữu tác phẩm trong nước cũng như cho các tác giả và chủ sở hữu tác phẩm của các quốc gia khác là thành viên Công ước, đồng thời các quốc gia thành viên khác của Công ước cũng sẽ có nghĩa vụ bảo bộ quyền tác giả cho các tác giả và chủ sở hữu tác phẩm Việt Nam.
Điều 2 Công ước Berne quy định Thuật ngữ “Các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩrn trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, sách pample và các bài viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm khác cùng chủng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học.
Điều 7 Công ước Berne quy định “Luật pháp của quốc gia thành viên Liên hiệp có thẩm quyền quy định thời hạn bảo hộ các tác phẩm nhiếp ảnh và các tác phẩm mỹ thuột ứng dụng coi như tác phẩm nghệ thuật; tuy nhiên, thời hạn này kéo dài ít nhất 25 năm kể từ khi tác phẩm được thực hiện”.
b) Luật Sở hữu trí tuệ
Điều 14 Luật SHTT: Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
Điều 25 Luật SHTT: Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phầm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này (I. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân.
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng).
không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.
Điều 27 Luật SHTT: Thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
1. Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn.
2. Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn bảo hộ như sau:
a) Tác phẩm... mỹ thuật ứng dụng,..có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.
b) Tác phẩm tạo hình có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;
c) Nghị định 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
Điều 15 Nghị định 100 : Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng
1. Tác phẩm tạo hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ họa, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.
2. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối bố cục với tính năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ; hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm.
Điều 22 Nghị định 100: Quyền nhân thân
Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
Điều 23 Nghị định 100: Quyền tài sản
2. Quyền sao chép quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
3. Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
Đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm nhiếp ảnh thì quyền phân phối còn bao gồm cả việc trưng bày, triển lãm trước công chúng.
d) Quy chế sao chép đối với tác phẩm tạo hình
4. Sao chép tranh, tượng dân gian, khuyết danh không chịu sự điều chỉnh của Quy chế này.
Điều 2. Một số từ ngữ ở trong Quy chế này được hiểu như sau:
1. Tác phẩm tạo hình là tác phẩm sáng tạo gồm hội họa, đồ họa, điêu khắc.
2. Sao chép tác phẩm tạo hình là việc căn cứ vào bản mẫu tác phẩm để tạo ra một hoặc nhiều bản mới, kể cả việc chuyển chất liệu tác phẩm, phóng to, thu nhỏ tác phẩm. Bản mới được tạo ra theo bản mẫu gọi là bản sao chép việc tạo ra hình ảnh tác phẩm tạo hình bằng hình thức photocopy, chụp ảnh hoặc xuất bản (không được coi là sao chép tác phẩm tạo hình).
3. Bản mẫu tác phẩm là bản gốc hoặc ảnh chụp bản gốc, khuôn đúc từ bản gốc được dùng làm mẫu để sao chép.
4. Bản gốc tác phẩm là bản hoàn chỉnh đầu tiên của tác phẩm do tác giả sáng tạo ra, được tác giả đưa ra công bố.
5. Nhân bản tác phẩm tạo hình là việc dùng khuôn đúc hoặc khuôn in để tạo ra nhiều bản giống như bản mẫu.
6. Chủ sở hữu tác phẩm tạo hình là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu các quyền của tác giả có thể chuyển giao theo quy định của pháp luật.
7. Mạo danh tác giả, giả mạo tác phẩm tạo hình là việc tự ý ghi tên tác giả trên tác phẩm không phải do tác giả sáng tạo.
Điều 3. Quyền tác giả đối với tác phẩm tạo hình bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra theo quy định của pháp luật. .
Điều 4. Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm, có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại, hoặc đề nghị xử lý theo pháp luật hiện hành.
Những quy định cụ thể về sao chép tác phẩm tạo hình
Điều 5.
1 Sao chép tác phẩm mà chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm bằng văn bản (trừ trường hợp chủ sở hữu tác phẩm với người sao chép có thỏa thuận khác). Trường hợp sao chép tác phẩm của tác giả đã qua đời trên 50 năm thì không phải xin phép chủ sở hữu tác phẩm đó.
2. Chủ sở hữu tác phẩm có quyền đồng ý cho nhiều tổ chức, cá nhân được sao chép tác phẩm của mình.
3. Sao chép tác phẩm của chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Điều 6. Trong văn bản thỏa thuận (hợp đồng sử dụng tác phẩm) giữa chủ sở hữu tác phẩm với người sao chép phải ghi rõ số lượng bản sao chép, mục đích, phạm vi sử dụng, mức thù lao mà người sao chép trả cho chủ sở hữu tác phẩm, hình thức thanh toán và các nội dung khác theo quy định của pháp luật về hợp đồng sử dụng tác phẩm.
Điều 7. Bản sao chép phải có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn tác phẩm gốc, trừ trường hợp sao chép bằng khuôn đúc hoặc khuôn in. Bản sao chép phải giữ đúng nội dung, hình thức như tác phẩm gốc.
Điều 8. Tranh do một tác giả sáng tác nhiều bức giống nhau thì phải đánh số thứ tự từ số 1, 2, 3, 4... đến hết vào phía sau và phải ghi thời gian sáng tác của từng tác phẩm.
Điều 9. Bản sao chép tác phẩm tạo hình phải ghi ở phía sau các thông tin sau đây: chữ “bản sao” và tên tác giả, tên tác phẩm, chất liệu tác phẩm gốc, năm sáng tác (nếu có), tên người sao chép, kích thước bản sao chép
e) Quy chế sử dụng ảnh trong tranh cổ động và bìa xuất bản phẩm
Điều 1. Việc sử dụng ảnh trong tranh cổ động và bìa xuất bản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này là lấy một phần hoặc toàn bộ ảnh, bằng các phương pháp kỹ thuật khác nhau, để tạo ra một bức tranh cổ động, bìa xuất bản phẩm hoặc dùng ảnh đó làm tư liệu để chuyển sang ngôn ngữ đồ họa trong tranh cổ động và bìa xuất bản phẩm.
Điều 4. 1. Việc sử dụng ảnh trong tranh cổ động và bìa xuất bản phẩm quy định tai Điều 3 khoản 1 điểm a phải được lập thành hợp đồng trên cơ sở thoả thuận giữa người sử dụng ảnh với tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả ảnh.
Điều 6. Người sử dụng ảnh trong tranh cổ động và bìa xuất bản phẩm có trách nhiệm:
1. Thực hiện đúng các quy định về việc sử dụng ảnh tại Điều 3 Quy chế này;
2. Ghi rõ tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc nguồn gốc xuất xứ của ảnh được sử dụng;
3. Thực hiện đúng các quy định của thể lệ cuộc thi hoặc cuộc vận động sáng tác tranh cổ động và các quy định của pháp luật về quyền tác giả.
Điều 7. Không được sử dụng ảnh đang có tranh chấp bản quyền tác giả hoặc ảnh có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng.
f) Quy chế hoạt động triển lãm mỹ thuật và Gallery
Điều 19: Nghiêm cấm các Gallery trưng bày, mua bán các cổ vật Nhà nước cấm buôn bán theo quy định hiện hành. Nếu buôn bán tác phẩm sao chép thì bản sao chép phải có kích thước lớn hoặc nhỏ hơn tác phẩm gốc từ 3 cm trở lên, phải giữ đúng nội dung, hình thức như tác phẩm gốc, phải có chữ ký của người chép dưới chữ ký của tác giả. Việc sao chép tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ theo quy định tại Luật Quyền tác giả.
Điều 20: Việc mua bán tác phẩm tại Gallery phải có sổ sách ghi chép, hóa đơn chứng từ rõ ràng, đảm bảo quyền lợi cho tác giả và người mua, khi xuất khẩu phải thực hiện những quy định về xuất khẩu văn hóa phẩm.
2. Tình trạng thực thi bản quyền mỹ thuật tại Việt Nam
a) Cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả
Năm 2006 2007 2008
Tổng 3147 3231 5000
Mỹ thuật ứng dụng 1476 1586 2400
Tạo hình 153 117 140
b) Tình trạng vi phạm bản quyền mỹ thuật.
Tình trạng vi phạm quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật xảy ra ở tất cả các loại hình, từ hội họa đến điêu khắc và mỹ thuật ứng dụng, nhưng nhức nhối nhất là nạn sao chép tranh trái phép và làm tranh giả, tranh nhái.
Số vụ vi phạm bị phát hiện và bị xử lý ít hơn rất nhiều so với số liệu các vụ vi phạm trên thực tế.
Một số vụ việc tiêu biểu xâm phạm hoặc tranh chấp về quyền tác giả trong thời gian vừa qua:
- Thời gian qua đã xảy ra một số vụ tranh chấp bản quyền giữa họa sĩ vẽ tranh cổ động và tác giả của bức ảnh được sử dụng lại, điển hình là vụ Nụ hôn của gió và vụ bê gần như nguyên xi bức ảnh Lớp học vùng cao làm tranh cổ động mà không xin phép tác giả Tranh cổ động, Vượt đèn đỏ, tác phẩm đoạt giải nhì cuộc thi sáng tác Tranh cổ động về An toàn giao thông thành phố Hồ Chí Minh 2005, bị khiếu nại vi phạm bản quyền. Sau khi tiến hành điều tra, Ban tổ chức đã ra quyết định thu hồi giải thưởng.
- Gia đình cố họa sĩ Bùi Xuân Phái muốn kiện Sotheby bán tranh giả. 4 trong số 5 bức tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái mà hãng Sotheby’s Hong Kong đem ra đấu giá gần đây được gia đình khẳng định là giả.
- Rất nhiều ảnh làm bìa sách là ảnh xâm phạm bản quyền.
- Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng Logo Hải Yến: trước đây, ông Vĩnh Thanh và bà Huỳnh Hồng Thúy là vợ chồng, cùng lập Công ty Thể thao Hải Yến.
Công ty này đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận vào năm 2005. Sau đó, hai người ly hôn, ông Vĩnh Thanh lập Công ty Thể thao Ngôi Sao và dùng mẫu của Công ty Hải Yến đề đăng ký logo cho công ty của mình dưới dạng “tác phẩm mỹ thuật ứng dụng” .
Cục Bản quyền tác giả đã có quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với logo của Công ty Ngôi Sao. Lý do hủy là đã có sự khai báo không trung thực trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả của Công ty Thể thao Ngôi sao.
- Về điêu khắc thì có vụ khiếu nại về tượng Thánh Gióng.
3. Biện pháp phòng và chống xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật
Thứ nhất, phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan; nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền tác giả nói chung, quyền tác giả trong lĩnh vực mỹ thuật nói riêng; nâng cao nhận thức và ý thức của các đối tượng (người có quyền, người sử dụng quyền và người hưởng thụ) về thực thi quyền tác giả. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng là mấu chốt để nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, cần có sự phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các cơ quan thực thi bảo hộ quyền tác giả, giữa các cơ quan quản lý, thực thi với nhà sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng và các hiệp hội. Cần có mức xử phạt đủ sức răn đe. Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan quy định:
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi mạo danh tác giả, giả mạo chữ ký tác giả.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
-Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi công bố lần đầu tiên tác phẩm mà không được phép của tác giả, các đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
- Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi làm tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tàng trữ chứa chấp hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả theo quy định của pháp luật
- Hành vi phân phối dưới hình thức bán tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 250.000.000 đồng tùy theo giá trị hàng hóa vi phạm.
- Hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả bị xử phạt phạt từ 1.000.000 đồng tới 500.000.000 đồng tùy theo giá trị hàng hóa vi phạm.
Thứ ba, nâng cao ý thức tự bảo vệ quyền, nâng cao vai trò của Hiệp hội nghề nghiệp và tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả. Hội nghề nghiệp có chức năng hỗ trợ, tư vấn giúp tác giả bảo vệ quyền tác giả. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả là một trong những công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả có thể giải quyết các vấn đề mà các cá nhân sở hữu quyền khó thực hiện.
ở Việt Nam hiện có 3 tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, đó là Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) thành lập năm 2002, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) thành lập năm 2003, và Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam (VLCC) thành lập năm 2004. Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả Việt Nam đã có những đóng góp rất quan trọng và hữu ích vào hoạt động bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan tại Việt Nam, nhất là trong các công tác thực thi cũng như trong việc nâng cao nhận thức của công chúng về quyền tác giả và quyền liên quan.
Thứ tư , phải có các biện pháp quản lý các hoạt động gallery và các cửa hàng sao chép tranh. Các cơ sở này phải bảo đảm tôn trọng quyền tác giả. Cần có các cam kết thực hiện quyền tác giả trước khi cấp phép hoạt động.
Thứ năm, sẵn sàng tiến hành các thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả hoặc chủ thể quyền. Cần có các cơ quan giám định về quyền tác giả mỹ thuật.
Thứ sáu, cần tăng cường hợp tác quốc tế. Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng không còn là vấn đề của mỗi quốc gia mà là vấn đề toàn cầu. Bởi vậy, để đảm bảo thực thi quyền quyền tác giả, cần phải tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia.
Việt Nam chúng ta là nước đi sau trong các vấn đề bảo hộ quyền tác giả, vì vậy càng cần phải học hỏi kinh kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, ví dụ thành lập và cơ chế hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả.
Xây dựng ý thức tôn trọng về thực thi quyền tác giả là việc làm không chỉ của riêng giới trí thức, văn nghệ sĩ, nhà quản lý trong ngành văn hóa, mà còn là việc làm của các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân và toàn xã hội./.
VŨ NGỌC HOAN - Đà Nẵng 27/3/2009
Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
|