Các tổ chức và hiệp hội đóng một vai trò chính trị quan trọng trong xã hội Na Uy. Giữa chính phủ Na Uy và các tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau luôn tồn tại một mối quan hệ mật thiết. Ví dụ mối quan hệ trong lĩnh vực chính trị văn hóa: suốt hơn thế kỷ qua, chính phủ Na Uy luôn nói về tầm quan trọng của văn hóa nghệ thuật trong đời sống nhân dân cũng như trong sự phát triển chung của xã hội. Chính phủ cho rằng sự phát triển văn hóa và nghệ thuật sẽ mang đến những biện pháp hiệu quả và sự hỗ trợ đắc lực. Sự phát triển đó chỉ có thể thực hiện được trong mối quan hệ mật thiết với bản thân các nghệ sĩ thông qua các tổ chức và hiệp hội nghệ thuật.
Phần lớn người dân Na Uy tham gia vào các hình thức tổ chức công đoàn. Các tổ chức công đoàn này thay mặt cho các thành viên thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội, bất kể quan điểm về chính trị và tôn giáo. Liên quan đến việc đại diện cho các thành viên trong hiệp hội, nhiệm vụ duy nhất cũng được coi như tiêu chí hoạt động chính mà các tổ chức/hiệp hội phải thực hiện nằm trong phạm vi của Quy chế.
Với 2700 thành viên trên khắp cả nước (trong tổng số 4,5 triệu dân), Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy hiện nay đại diện cho đa số các nghệ sĩ chuyên nghiệp trong nước. Chính phủ Na Uy công nhận Hiệp hội này như một cơ quan đàm phán và tư vấn, nơi các câu hỏi liên quan đến nghệ thuật cũng như điều kiện làm việc của các nghệ sĩ được đề cập đến. Hiệp hội này được phát triển bắt nguồn từ các hiệp hội nghệ sĩ hoạt động vào giữa những năm 1860.
Cam kết hoạt động và mục đích chính của Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy trong suốt nhiêu thập kỷ qua là: “Phát triển và bảo đảm những quyền và lợi ích về trí tuệ, xã hội, luật pháp và kinh tế cho các nghệ sĩ mỹ thuật chuyên nghiệp”.
Điều này nghĩa là mối quan tâm lớn nhất của hiệp hội gắn liền với những vấn đề và thử thách mà các nghệ sĩ mỹ thuật phải đối mặt hằng ngày chính là các nghệ sĩ.
Trong suốt những thập kỷ vừa qua, rất nhiều bản báo cáo chính phủ đã khẳng định tính chắc chắn trong việc đòi quyền lợi liên quan đến lợi ích về kinh tế và xã hội của nghệ sĩ do Hiệp hội quy định. Rõ ràng rằng chỉ một phần nhỏ các nghệ sĩ có thể sống dựa vào nguồn thu nhập từ việc bán tranh, phần đông các nghệ sĩ còn lại - ít nhất là các nghệ sĩ cùng thời - đều bị buộc phải tìm đến các ngành nghệ thuật khác hoặc những công việc không liên quan đến nghệ thuật để có thể tồn tại và có cơ hội tiếp tục sáng tạo.
Vì vậy nhiệm vụ chính của Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy là phải chứng thực bằng tài liệu những nhu cầu nhằm hỗ trợ công chúng và những quy định thuộc nhiều thể loại khác nhau, và điều kiện hoạt động với sự hỗ trợ của các giải pháp khác nhau trước những khó khăn thách thức kinh tế.
Việc hỗ trợ trực tiếp công khai cho cá nhân các nghệ sĩ đã tồn tại từ cách đây hơn 150 năm, trước cả khi hiệp hội này được thành lập. Việc hỗ trợ các nghệ sĩ đã được Quốc hội Na Uy thực hiện lần đầu tiên vào năm 1836; sau đó thành quỹ di động hỗ trợ cho các họa sĩ và nhà điêu khắc. Về sau các nhà văn và nhạc sĩ cũng được hỗ trợ từ cùng nguồn kinh phí này của chính phủ.
Trong suốt thế kỷ 19, những nghệ sĩ mỹ thuật được nhận hỗ trợ nhiều nhất từ nguồn kinh phí của chính phủ dành cho nghệ thuật và những nghệ sĩ được phong danh hiệu ưu tú thường nhận được sự hỗ trợ này. Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, do vị thế của ngôn ngữ và văn hóa trong cấu trúc xã hội, các nhà văn là nhóm mục tiêu chính được nhận hỗ trợ.
Do chính sách phát triển các tác phẩm nghệ thuật ngày càng được cải thiện theo nhiều hướng, nên chính sách dành cho việc hỗ trợ các nghệ sĩ cũng dần rõ ràng hơn. Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy được thành lập từ năm 1974, cùng lúc với các hiệp hội khác trong lĩnh vực này có hình thức tổ chức giống các công đoàn. Vào năm này, đã có một tuyên bố chung của các hiệp hội tác giả nhằm thiết lập một hệ thống tiên tiến và mạnh mẽ để hỗ trợ cho các nghệ sĩ đang được yêu thích được gọi là “Kunstneraksjonen 1974”.
Tuyên bố này bao gồm 3 điểm nhằm giúp cải thiện vị thế kinh tế của các nghệ sĩ:
1. Bồi thường thỏa đáng cho việc sử dụng các tác phẩm nghệ thuật.
2. Gia tăng việc sử dụng nghệ thuật trong xã hội.
3. Có một khoản thu nhập tối thiểu được đảm bảo cho các nghệ sĩ những người mà không có đủ thu nhập từ các tác phẩm nghệ thuật của họ.
Đáp lại lời tuyên bố trên, một bản báo cáo của chính phủ vào năm 1976 nêu rõ rằng chính phủ chịu trách nhiệm chính trong việc phát triển nghệ thuật, cũng như các điều kiện làm việc của nghệ sĩ ở Na Uy.
Một nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển sau đây được coi như vai trò mà chính phủ đã giao cho các hiệp hội nghệ sĩ, với sự xác nhận quyền lợi của các nghệ sĩ như nhũng nhà đàm phán đối với chính phủ về những vấn đề liên quan đến nghệ sĩ. Kể từ đó, quyền đàm phán này được các hiệp hội sử dụng rộng rãi.
Một thực tế rằng bản thân các tác giả - thông qua những hiệp hội của họ có thể đóng một vai trò tích cực trong các quyết định thuộc chính sách của nhà nước thông qua tiến trình dân chủ, có thể là khác thường đối với các quốc gia Bắc âu và có lẽ sẽ không bao giờ khả thi nếu các hiệp hội này có thể hợp nhất số đông những nghệ sĩ lại, bất kể thành phần chính trị, đức tin tôn giáo, và các hình thức biểu hiện khác nhau về nghệ thuật.
Hiện nay, trong cơ chế thuộc lĩnh vực hoạt động nghệ thuật chính thống có bao gồm sự lao động tích cực và có tổ chức của nghệ sĩ.
Ngoài ra, các hiệp hội nghệ sĩ có trách nhiệm thương thảo trong phạm vi hoạt động cụ thể của họ, họ cũng là những người tiếp nhận những khoản thù lao tập thể, và vì lẽ đó họ có trách nhiệm trong việc phân phối những khoản tiền này.
Những điểm đặc biệt trong luật pháp Na Uy đối với vấn đề bản quyền. Trong phần này, tôi chủ yếu đề cập đến một vài điểm đặc biệt liên quan đến vấn đề bản quyền trong luật pháp Na Uy. Một vài điểm đã thục sự được đề xướng trong suốt những năm 1940, và sau đó phát triển vững mạnh hơn nhờ những cuộc đàm phán giữa chính quyền và hiệp hội các nghệ sĩ kể từ cuối những năm 1970.
Những chính sách của Na Uy trong lĩnh vực này được xây dựng dựa trên những cuộc thảo luận giữa hiệp hội các nghệ sĩ và chính quyền để từ đó đưa ra những giải pháp thực tế đối với những câu hỏi phức tạp về quyền bình đẳng giữa cá nhân và tập thể, giữa sở thích của tác giả với sở thích của cộng đồng.
Những thay đổi của quyền sở hữu bản quyền
Như trường hợp năm 1948, khi vấn đề thiết lập quyền được bán lại tác phẩm của mình của các nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác như luật bản quyền quy định thất bại ở Châu âu, chính phủ Na Uy thay vì chọn cách điều chỉnh một quyền tương tự dựa vào tập thể, họ đã đưa ra một luật mới dựa vào văn hóa chính trị được gọi là “điều luật 3 phần trăm”. ý tưởng về bản quyền gốc bắt đầu ở Pháp từ việc bán bức tranh nổi tiếng Angelus của Millets năm 1858, sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Người sở hữu bức tranh đã thu được một khoản tiền lớn từ việc bán tranh còn gia đình họa sĩ Millets thì sống nghèo khổ. ý tưởng về quyền sở hữu bản quyền (trong tiếng Pháp gọi là “droit de suite” là cách để giải quyết tình trạng khó khăn này, bằng cách thu một khoản lệ phí khi bán lại những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ. Đầu những năm 1890, khi một luật sư người Pháp,Vaunois tiếp cận ý tưởng về quyền sở hữu bản quyền đã có những ý kiến cho rằng giá trị của những tác phẩm được bán tăng lên là nhờ vào công việc của các nghệ sĩ và tiếng tăm của họ chứ không phải nhờ vào những nỗ lực đặc biệt của người sở hữu bức tranh. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi các nghệ sĩ có quyền được hưởng một phần số tiền từ việc bán tác phẩm.
Một họa sĩ Na Uy và một thành viên của tổ chức nghệ thuật, Ulrik Hendriksen đã đề nghị một giải pháp khả thi là đưa ra một điều luật quy định thu thuế 3% đối với những tác phẩm mỹ thuật được bán lần thứ nhất cũng như lần thứ hai. Số tiền thu thêm là hoàn toàn hợp lý, và để đảm bảo cho việc thu thuế, tổ chức “Quỹ cứu trợ các nghệ sĩ mỹ thuật” được thành lập.
Phần lớn số tiền được dùng để giúp đỡ những nghệ sĩ già và gia đình họ, số còn lại được dùng cho việc trợ cấp và cho các dự án. Một ủy ban trợ cấp được thành lập gồm những nghệ sĩ của Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy nhằm trợ cấp cho những người có nhu cầu, dựa trên điều kiện sống của họ.
Kể từ ngày thành lập, Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy cho biết “điều luật 3 %” đã thành công rực rỡ. Trong vài năm qua, điều luật này đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống và điều kiện làm việc của một số lượng lớn các nghệ sĩ và do đó đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nghệ thuật.
Nhưng quan trọng nhất: việc điều chỉnh đã không gặp trở ngại về mặt hành chính, vì vậy hầu hết số tiền thu được đã được sử dụng đúng mục đích. Vào thời điểm những điều chỉnh về quyền dược thông qua ở châu âu và được thi hành ở Na Uy, Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy đã có văn kiện trình lên Chính phủ đề nghị không cần thiết phải bỏ đi “điều luật 3%” khi những điều chỉnh về quyền sở hữu bản quyền được thi hành. Có ý kiến cho rằng nên chấp nhận sự tồn tại của cả hai.
Đó là một kết thúc tốt đẹp, và ngày nay điều luật này vẫn tồn tại bên cạnh quyền sở hữu bản quyền, như đã được thực thi trong luật bản quyền của Na Uy năm 2007. Thu nhập từ quyền sở hữu bản quyền, như ông Holter giải thích là một phần thưởng cho những nghệ sĩ có tác phẩm được bán, dựa trên quy định về văn hóa chính trị.
Cho mượn quyền.
Cách lập luận thực tế và mang tính tập thể như được đề Cập trong trường hợp điều Luật 3% đã được phản ánh trong điều luật quy định về thù lao cho mượn quyền, được quy định trong luật năm 1947. Ban đầu chỉ là 1 điều khoản trong luật của thư viện, sau đó kể từ năm 1987 thì trở thành 1 điều khoản riêng biệt trong luật bồi thường của thư viện. Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy là 1 trong số 22 hiệp hội ngày nay được nhận bồi thường vì sách của họ đã bị các thư viện để cho công chúng tùy ý sử dụng. Thù lao xuất phát từ đạo luật này trước tiên là để bù đắp cho những thiệt hại về tài chính mà các tác giả phải chịu vì công chúng sử dụng các tác phẩm nghệ thuật. Thù lao từ khoản bồi thường này được đưa ra trên 1 cơ sở thống nhất giữa các hiệp hội và các quỹ bảo trợ của họ, và thường được trao cho các tác giả như 1 phần trợ cấp.
Bồi thường cho hoạt động trưng bày tác phẩm nghệ thuật thị giác.
Các điều luật liên quan đến bản quyền đã và đang là 1 công cụ đắc lực cho tác giả cả về mặt tài chính lẫn quyền lợi đạo đức.
Thực tế là những quyền lợi trái chiều về quyền lợi giữa mong muốn của tác giả trong việc tận dụng tác phẩm của mình cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác và nhu cầu của xã hội trong việc giới hạn việc đăng ký bản quyền để có thể tự do tiếp cận tác phẩm - thì được phản ảnh - và luôn luôn được phản ánh trong luật bản quyền.
Là 1 nguồn thu nhập, luật bản quyền chính vì thế mà có những giới hạn riêng của nó.
Do những đặc tính của tác phẩm nghệ thuật thị giác và phương thức mà các tác phẩm này được giới thiệu đến công chúng, những tổn thất về kinh tế từ việc hạn chế luật bản quyền mà các nghệ sĩ thị giác phải hứng chịu là lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất mà các nhóm nghệ sĩ khác.
Chính vì điều này, Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy đã tranh luận gay gắt để đưa ra các điều lệ hay các biện pháp khác nhằm đòi hỏi nguồn bồi thường từ chính phủ nhằm giảm đi các tổn thất kinh tế cho các nghệ sĩ thị giác.
Ví dụ minh họa về chiến lược hướng đến sự công nhận về mặt chính trị và văn hóa. Tôi sẽ cố gắng giải thích cho mọi người biết rằng làm thế nào mà Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy đã thành công trong việc tranh luận và đấu tranh nhằm hướng đến việc tạo ra 2 loại hình bồi thường.
Đầu tiên tôi sẽ giải thích vì sao những giới hạn trong luật bản quyền liên quan đến lợi ích kinh tế, lại gây nhiều hậu quả cho các nghệ sĩ thị giác lớn hơn so với các nhóm nghệ sĩ khác.
Nghệ sĩ thị giác thường chỉ làm ra 1 tác phẩm duy nhất. Để chia sẻ ý tưởng của mình với người khác, họ phải giới thiệu tác phẩm của mình theo hình thức nào đó triển lãm và mô phỏng lại tác phẩm.
Điều bất lợi của việc mô phỏng sản phẩm là giá trị của tác phẩm sẽ bị mất mát ít nhiều. Vì thế, đối với nghệ thuật thị giác, triển lãm là hình thức phù hợp nhất trong việc trưng bày ra công chúng.
Ngắm nhìn các hình thức thể hiện khác nhau trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, chúng tôi nhận thấy rằng việc bồi thường thường có liên quán đến quy trình giới thiệu tác phẩm. Việc bồi thường cho nhà văn phải liên quan đến 1 sự thật là tác phẩm của họ bị sao chép lại nhiều lần hoặc bị công bố. Cũng như thế, 1 nhà soạn nhạc sẽ được bồi thường nếu bản nhạc của họ bị sao chép hoặc biểu diễn trước công chúng.
Nghệ sĩ thị giác cũng được nhận bồi thường nếu tác phẩm của họ bị sao chép thông qua hoạt động mô phỏng sản phẩm, nhưng như đã được trình bày trên đây, đây không phải là 1 hình thức tiêu biểu để giới thiệu tác phẩm thị giác.
Đôi với hình thức triển lãm, người nghệ sĩ lại không nhận được bất cứ khoản bồi thường nào. Trong khi nhà văn hoặc nhà soạn nhạc thường giữ lại bản chép tay về tác phẩm của họ, và kiếm tiền từ việc từ các phiên bản sao chép hay trình diễn tác phẩm đó, thì nghệ sĩ trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác lại kiếm lợi nhuận từ doanh thu của tác phẩm gốc.
Hầu hết các nước đều không ngừng nỗ lực trong việc hướng lĩnh vực nghệ thuật đến với nhiều người dân hơn và nâng cao chất lượng của lĩnh vực nghệ thuật. Sự đầu tư này từ xã hội là phần lợi ích của những người lao động trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật - những người mà thu nhập của họ chủ yếu đến từ hoạt động nghệ thuật.
Mặc dù nghệ sĩ lĩnh vực nghệ thuật thị giác đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa tổng thể, nhưng họ lại không được hưởng lợi mấy từ những nỗ lực và sự đầu tư không ngừng của xã hội trong lĩnh vực nghệ thuật trong toàn xã hội.
ở hầu hết các nước, giá bán một tác phẩm chỉ phụ thuộc duy nhất vào cơ chế thị trường. Việc bồi thường cho 1 tác phẩm bị tùy ý sử dụng rộng rãi trong công chúng thông qua việc tăng giá bán là không thể được, và khi tác phẩm đã được bán, quyền trưng bày nó sẽ do người mua quyết định.
Bồi thường trưng bày công khai tác phẩm nghệ thuật thị giác. Trước tiên, việc chấp nhận những thỏa thuận trong trưng bày nghệ thuật công khai do nhà nước và cộng đồng quản lý là kết quả của hệ thống đặc biệt về mạng lưới bồi thường.
Dựa trên những thoả thuận nêu trên,và những số liệu chính thức cho thấy người làm nghệ thuật thị giác gặp nhiều khó khăn về tài chính hơn những nhóm nghệ thuật khác. Vào năm 1978, Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy đã bắt đầu một kế hoạch lâu dài nhằm gây ảnh hưởng đến nhà nước và cộng đồng về bồi thường trưng bày miễn phí nghệ thuật thị giác.
Giữa chính phủ và những nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật đã có cuộc tranh luận về quyền lợi trên báo chí. Hiệp hội cũng đã tiến hành những loại hình hoạt động và có những bằng chứng khác nhau như hoạt động nhằm gìn giữ những tác phẩm nơi công cộng...., cũng như những bằng chứng cụ thể cho thấy nhà nghệ thuật thị giác đã cống hiến cho xã hội mà không nhận được khoản bồi thường kinh tế cho đóng góp của họ.
Cuối cùng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa đã phê chuẩn về thỏa thuận bồi thường năm 1986 trong bài phát biểu kỷ niệm 100 năm Hiệp định Berne.
Trước tiên là văn bản về thỏa thuận giới hạn giữa chính phủ và hội đồng nghệ thuật của những lĩnh vực nghệ thuật thị giác, nghệ thuật nhiếp ảnh và điêu khắc.
Nhưng sau đó vào năm 1993 giới nghệ sĩ đã thành công khi nhận được quyền phê chuẩn trong bộ luật khác nhau.
Việc bồi thường này đã trở thành một bước ngoặt quan trạng nhằm tạo điều kiện thuận lợi về tài chính cho những nhà nghệ thuật thị giác, nhưng khoản tiền phát sinh từ luật này vượt quá tổng số tiền cấp cho nhóm nghệ sĩ khi họ bán bản quyền.
Ngân sách của các bang dành cho lĩnh vực nghệ thuật không đủ để chi trả cho hoạt động của hiệp hội bao gồm nghệ thuật thị giác, điêu khắc và nhiếp ảnh. Bên cạnh đó ngân sách này cũng không đủ để hỗ trợ hoạt động cũng như quyền lợi chung của giới nghệ sĩ trong lĩnh vực này.
Đã có những cuộc thương lượng giữa các hiệp hội nghệ thuật và chính phủ về khoản tiền chính được sử dụng trong suốt 3-4 năm theo thỏa thuận.
Tiền nhận từ triển lãm
Cùng ý tưởng tranh luận, Hội Nghệ sĩ Na Uy đã thành công trong việc thiết lập ra những thỏa thuận giữa hội các nghệ sĩ và nhà nước, điều này đồng nghĩa với việc những nghệ sĩ được mời chính thức tham gia triển lãm các công trình nghệ thuật do chính họ sáng tác và đã hỗ trợ cho phòng triển lãm tác phẩm nghệ thuật có quyền được nhận lệ phí trưng bày triển lãm.
Lệ phí cho việc trưng bày triển lãm được căn cứ trên cơ sở số tiền chi trả hàng tháng cho mỗi tác phẩm nghệ thuật của mỗi cá nhân nghệ sĩ, và chi trả cho từng nghệ sĩ tham gia trưng bày tác phẩm của mình.
Giấy phép bản quyền tập thể mở rộng
Dù triển lãm và trao đổi mua bán là loại hình trao đổi giao tiếp chính đối với các nghệ sĩ nhưng những năm gần đây tình trạng mô phỏng hàng loạt các tác phẩm nghệ thuật diễn ra dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức tái sử dụng được xem là nguồn mang lại thu nhập quan trọng đáng kể đối với nhiều nghệ sĩ.
Ông Holter sẽ hướng dẫn chi tiết cho các bạn cách làm thế nào mà BONO thu thập và quản lý bản quyền này thay cho những nhà sở hữu bản quyền. Về phần tôi, tôi sẽ đưa ra một bảng tóm tắt về công trình xây dựng đặc biệt ở Na Uy mà hiện nay được nêu rõ trong Luật Bản quyền Na Uy, có tên là “Giấy phép bản quyền mở rộng” không nằm trong trách nhiệm của BONO.
Quản lý tập thể bản quyền Mô phỏng và Nghe nhìn
Có rất nhiều nhà sử dụng bản quyền nhưng lại không biết ai là chủ sở hữu bản quyền đó và ký kết hợp đồng với họ. Phát triển công nghệ bắt đầu từ việc giới thiệu máy photocopy vào những năm 70, và tiếp sau đó là sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực nghe nhìn, và hiện nay là kỹ thuật số lan rộng dưới mọi hình thức. Dĩ nhiên, điều này cũng gây không ít khó khăn thách thức đối với các nhà quản lý bản quyền, đồng thời đưa ra những phương thức mới đối với việc thu thập và quản lý bản quyền.
Riêng việc phát triển công nghệ không làm thay đổi việc giữ quyền tác giả, nhưng dĩ nhiên điều đó sẽ đem lại nhiều thách thức mới khi muốn đảm bảo sự quan tâm của các bên liên quan.
Khi máy photocopy trở nên phổ biến, cũng là lúc hội các tác giả và các nhà xuất bản Na Uy bắt đầu thể hiện mối quan tâm sâu sắc đối với việc sao chép hàng loạt các tác phẩm nghệ thuật của họ, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục.
Điều hiển nhiên là máy photocopy chẳng bao lâu trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên khi muốn bổ sung vào sách giáo khoa những tài liệu yêu thích khác, tuy nhiên chính vì điều này vô tình các giáo viên đã ngày càng vi phạm luật Bản quyền Na Uy trong khi sử dụng loại công cụ mới này.
Dưới sức ép của hội những nhà quản lý bản quyền, chính phủ nhận thấy rằng phải làm một việc gì đó nhằm hợp pháp hóa việc này, và năm 1979 một luật đặc biệt tạm thời ra đời nhằm tạo điều kiện việc ký thỏa thuận, được Quốc hội thông qua, giữa hội những nhà quản lý bản quyền và ngành giáo dục.
Để quản lý quyền thành viên liên quan đến việc sao chép của người thứ ba, năm 1980 hội các tác giả và nhà xuất bản đã thiết lập tổ chức quản lý tập thể có tên KOPINOR. Hội các nghệ sĩ Na Uy trở thành thành viên sáu năm sau đó. Luật mới tạm thời áp dụng ở các cơ sở giáo dục bao gồm giấy đăng ký bản quyền gọi chung là “Giấy phép bản quyền có giới hạn”. Trong những năm tiếp theo người ta xem nó như là một công cụ quan trọng trong việc sao chép quyền tác giả, từ việc sao chép hàng loạt này đã tạo ra nhiều thách thức.
Giấy phép bản quyền được sử dụng khi những nhà sản xuất khó có thể tiến hành thỏa thuận với người sở hữu bản quyền.
Khi Luật bản quyền tác giả được thảo lại năm 1995, giấy phép bản quyền cũng nằm trong bộ luật này và được mở rộng đối với lĩnh vực quản lý công chúng, các doanh nghiệp, và các tổ chức, ngoài ra còn có cả trong lĩnh vực giáo dục.
Tương tự Giấy phép bản quyền cũng được áp dụng trong lĩnh vực nghe nhìn, và chịu sự quản lý của tổ chức quản lý tương tự như tổ chức KOPINOR, đó là tổ chức NORWACO.
Giấy phép bản quyền không được xem như là giới hạn quyền tác giả mà nó là sự sắp xếp thuận tiện cho việc quản lý.
Giấy phép tập thể mở rộng
Nội dung chủ yếu của giấy phép bao gồm:
Sau khi thương thảo thành công một thỏa thuận giữa một bên là người sử dụng và một bên là một tổ chức đại diện cho phần lớn những người Na Uy nắm giữ bản quyền về một loại hình cụ thể nào đó, bắt buộc cần cấp một giấy phép cho tác phẩm mà người nắm giữ bản quyền của nó không phải là người được tổ chức đó iàm đại diện cho họ. Cách thức này hàm ý rằng những người sở hữu bản quyền ở một lĩnh vực tác phẩm cụ thể nào đó được bảo vệ thông qua bản quyền, được hợp lại thành các hiệp hội đại diện cho phần lớn những người nắm giữ bản quyền ở lĩnh vực có liên quan, và theo cách thức này các hiệp hội này có sự ủy thác từ những người nắm giữ bản quyền để thuận lợi cho việc ký kết, hoặc ủy thác cho một tổ chức quản lý tập thể để thay mặt họ tiến hành ký kết hợp đồng.
Tại Na Uy, việc ủy quyền của Bộ Văn hóa cho một tổ chức nào đó để ký thỏa thuận nhằm tạo cơ sở nền tảng cho Giấy phép tập thể mở rộng (Extended Collective License) là một điều cần thiết.
Sau nhiều lần thương thảo tự do, tổ chức quản lý tập thể này sẽ tiến hành ký một thỏa thuận khống với người sử dụng nào đó hoặc một nhóm người sử dụng nào đó, về một loại hình khai thác nào đó trong một lĩnh vực cụ thể nhất định.
Lúc đó, Luật Bản quyền nêu rõ thỏa thuận này cũng áp dụng đối với người nắm giữ bản quyền nước ngoài và người nắm giữ bản quyền trong nước - những người không phải là thành viên của tổ chức ký hợp đồng, tùy theo sự bảo vệ đối với thành viên bên ngoài.
Tuy nhiên, kế hoạch cấp phép phải đảm bảo rằng người nắm giữ quyền mà không phải đại diện cho tổ chức quản lý tập thể cần phải được đối xử công bằng như những thành viên trực tiếp trong tổ chức đó. Luật Bản quyền còn nêu rõ quyền yêu cầu khoản tiền thù lao cá nhân.
Hai bên KOPINOR và NORWACO đều nhất trí thỏa thuận giao dịch với các tổ chức ở các quốc gia khác. Điều này đảm bảo rằng các quỹ thù lao cũng sẽ bao gồm cả những người nước ngoài nắm giữ bản quyền.
Trên cơ sở của nội dung thỏa thuận và các điều khoản của luật quy định, người sử dụng liên quan đến vấn đề này có thể sử dụng loại vật liệu mà hợp đồng có đề cập biết rằng anh ấy /chị ấy có thể không có hành vi vi phạm.
Vì vậy, kế hoạch này sẽ mang lại lợi ích cho cả người sở hữu bản quyền lẫn người sử dụng, điều đó cần có một lộ trình pháp lý đơn giản cho các tác phẩm nghệ thuật.
Lợi ích của người sở hữu bản quyền nằm ở chỗ thực tế là những cá nhân không thể đơn giản kiểm soát hết hàng trăm hàng ngàn việc sử dụng được hình thành từ các tác phẩm của họ. Về phía người sử dụng, lợi ích của họ là nằm ở khả năng xin được giấy phép trong đó có đề cập đầy đủ mọi thứ, và thực tế là họ tin tưởng rằng việc khai thác của họ sẽ không bị cản trở hoặc không bị ảnh hưởng bởi những yêu cầu đòi hỏi đột xuất từ những người nắm giữ bản quyền nào đó.
Những nội dung thỏa thuận mà KOPINOR có tham gia, nói chung là sẽ cho phép việc sao chép phục vụ cho mục đích sử dụng nội bộ cơ quan thuộc phạm vi thỏa thuận, không cho phép đối với mục đích sử dụng công khai hoặc bán ra thị trường. Một hạn chế cơ bản khác trong nội dung thỏa thuận là một người sử dụng nào đó có thể sao chép chỉ một phần trong một cuốn sách nào đó hoặc một ấn phẩm nào đó. Chẳng hạn, 15% hoặc một chương trong một cuốn sách nào đó hoặc tương tự cho một người trong một năm.
Khi mà các thiết bị sao chép truyền thống hiện nay đang dần được thay thế bởi những công cụ máy móc kỹ thuật số hiện đại và hiệu dụng hơn, thì lĩnh vực kỹ thuật số hiện nay cũng sẽ được giấy phép đề cập, sau khi sửa lại luật bản quyền 2005. Năm ngoái, KOPINOR cũng đã ký một thỏa thuận đầu tiên bao gồm các vấn đề như sao chép bằng kỹ thuật số trong phạm vi trường học và cơ quan quản lý hành chính đô thị.
Những nhóm nắm giữ bản quyền sẽ thương thảo với nhau, và đây là cơ sở cho việc phân phối thù lao từ tổ chức quản lý tập thể.
Tiền thù lao nhận được từ Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy sẽ được phân phối cho nghệ sĩ dưới dạng tiền trợ cấp (grant) và hỗ trợ khác thông qua Quỹ Nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy, cũng giống như việc tiền tập thể được nhận từ khoản bồi thường khi trưng bày những tác phẩm nghệ thuật thị giác.
Đối với những nghệ sĩ thị giác, các khoản thù lao nhận được từ KOPINOR nhiều hơn xa so với khoản tiền chuyển đến từ NORWACO- là đơn vị thay mặt cho những người nắm giữ bản quyền ký thỏa thuận phát sóng truyền hình, truyền thanh, và sử dụng tại các cơ sở giáo dục cũng như những doanh nghiệp khác. Khoản thù lao từ NORWACO cũng được rót về Quỹ Nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy.
Nhu cầu thành lập một tổ chức quản lý tập thể
Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy là một trong những thành viên của KOPINOR và NORWACO nhận sự ủy nhiệm từ người giữ bản quyền của giới nghệ sĩ nhằm đại diện cho họ khi liên quan đến Giấy đăng ký bản quyền tập thể.
Tuy nhiên, Giấy đăng ký bản quyền tập thể lại giới hạn về trách nhiệm, chính vì vậy Hiệp hội nhận thấy sự cần thiết để thành lập một tổ chức quản lý tập thể riêng. Tổ chức này có thể quản lý nguồn sao chép của cá nhân thay người giữ bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác. Nhằm mục đích trên năm 1992, Tổ chức quản lý tập thể BONO ra đời.
Những vấn đề khác.
Như tôi nhấn mạnh ở phần đầu, sự cam kết lâu dài của Hiệp hội các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy nhằm thúc đẩy sự an toàn ở nhiều mức độ cũng như đại diện cho giới nghệ sĩ. Bên cạnh đó, hội cũng được biết đến như nhà ủy quyền điều hành những lĩnh vực khác của xã hội và thật sự ảnh hưởng đến công việc và đời sống của giới nghệ sĩ.
Ví dụ như hội đã đạt được những điều lệ đặc biệt được xem là độc nhất trong hệ thống pháp chế liên quan đến thủ tục thuế của Na Uy dành cho giới nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác.
Nghị viện đã thật sự bị chi phối bởi những thỏa thuận của giới nghệ sĩ khi họ đề cập đến luật đặc biệt nhằm tạo cho họ cơ hội như những nhóm nghệ sĩ khác. Nghị viện cũng đã chấp thuận rằng thực tế khác nhau cũng đòi hỏi những điều luật khác nhau nhằm đạt được công bằng điều khoản trong Praxis.
Là một luật sư làm việc trong một nhóm quan tâm đặc biệt, tôi xem những thành tựu như là giá trị khi nó mang về vai trò và nhiệm vụ cho các hội. Hội trong chừng mực nào đó không thể đảm nhiệm tất cả vai trò cho nhóm các nghệ sĩ, hội chỉ đóng vai trò chủ động nhằm chứng minh về điều kiện thực tế của giới nghệ sĩ và sử dụng những thông tin đó để phát triển những công việc cần thiết nhằm đạt được sự thay đổi tích cực.
Thông qua tòa án tự do, hội đã giúp đỡ cho giới nghệ sĩ cũng như có được nguồn kinh nghiệm nhằm nắm bắt rõ hơn đời sống mà giới nghệ sĩ đang phải đối mặt. Điều này lần nữa lại tạo cho Hội khả năng để tìm ra giải pháp trong lĩnh vực đặc biệt nhằm kêu gọi hành động từ phía hội và đạt được sự thay đổi trong điều luật.
Mặc dù mục đích đã đến gần, nhưng vẫn còn cần nhiều thời gian để đạt đến mục tiêu về cung cấp việc làm và đời sống cho giới nghệ sĩ như những đồng nghiệp. Trong các lĩnh vực khác, việc tăng số lượng nghệ sĩ cũng tạo ra nhiều thách thức mới.
Những vấn đề quan trọng đối với hội vào thời điểm này là tạo môi trường làm việc tốt hơn cho giới nghệ sĩ trong khu vực thành thị và mở rộng phim trường (studio- capacity) cũng như đấu tranh cho kế hoạch xã hội tốt hơn và cung cấp hệ thống trao đổi quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác.
Hilde Sjggestad Luật sư, cố vấn pháp luật Hiệp hội Nghệ sỹ Mỹ thuật NaUy
|