1. Giới thiệu sơ lược về bản quyền của các nghệ sĩ mỹ thuật Na Uy
Bản quyền là gì?
Bản quyền là quyền sở hữu trí tuệ cho phép các cá nhân như các nghệ sĩ, nhạc sĩ, tác giả sở hữu thành quả lao động của mình. Vì vậy, bản quyền rất quan trọng giúp các nghệ sĩ nắm được quyền sở hữu tác phẩm trong trường hợp các tác phẩm nghệ thuật của mình bị người khác sử dụng. Ngoài ra, bản quyền còn giúp các nghệ sĩ thu các khoản lợi tài chính từ việc sáng tác của mình.
Độc quyền:
Bản quyền được dựa trên nguyên tắc độc quyền của mỗi tác giả. Điều này có nghĩa là theo nguyên tắc thì bất kì ai muốn sử dụng tác phẩm đã đăng kí bản quyền đều phải có sự cho phép của tác giả. Nói cách khác, tác giả có quyền đồng ý hoặc không đối với việc để người khác sử dụng tác phẩm của mình. Nếu tác giả cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình thì tác giả có quyền được hưởng thù lao. Nhưng nếu ai đó sử dụng tác phẩm mà không được sự cho phép của tác giả thì tác giả có quyền đòi bồi thường. Luật pháp có thể bác bỏ độc quyền của tác giả vì một số nguyên nhân, trong đó việc cần được tiếp cận và chia sẻ thông tin của công chúng là nguyên nhân quan trọng nhất.
Có 3 mục đích chính về việc bác bỏ độc quyền của tác giả:
1. Sử dụng miễn phí:
Không cần sự cho phép của tác giả, không cần sự bồi thường.
Một số điển hình về các loại hình mỹ thuật theo luật bản quyền của Na-uy:
- Khi một tác phẩm nghệ thuật được sử dụng hay trưng bày với mục đích triển lãm hoặc bày bán.
- Khi một tác phẩm nghệ thuật được sử dụng hoặc trưng bày có liên quan tới việc quảng bá một sự kiện hiện tại, và tác phẩm nghệ thuật là chủ đề của các bản tin
II. Giấy phép bắt buộc:
Không cần sự cho phép của tác giả, tuy nhiên tác giả được quyền đòi thù lao.
Điển hình về các loại hình mỹ thuật theo luật bản quyền của Na-uy:
- Khi một tờ báo sử dụng một tác phẩm nghệ thuật nhằm minh họa cho một sự kiện hiện tại (không đề cập đến bản thân tác phẩm)
III. Giấy ủy quyền theo hội nghệ sĩ:
Giấy ủy quyền theo hội nghệ sĩ không được tính đến trong độc quyền của tác giả bởi vì giấy này cho phép các tổ chức, như hội nghệ sĩ, bên đại diện cho các nghệ sĩ và những người nắm giữ bản quyền tham gia hợp đồng với người sử dụng tác phẩm nghệ thuật có ràng buộc kể cả những nghệ sĩ và những người nắm giữ bản quyền khác không phải là thành viên của hội.
Chẳng hạn như ở Na-uy thì giấy ủy quyền theo hội nghệ sĩ ở dạng bản sao.
Bà Sjeggestad đã trình bày về vấn đề này, vì vậy tôi sẽ không nói gì thêm.
Nghệ sĩ mỹ thuật và bản quyền của họ so với các tác giả và bản quyền tác giả khác:
Các tác giả như nhà văn và nhạc sĩ phụ thuộc rất lớn vào thu nhập từ bản quyền tác phẩm của mình. Thu nhập chính của một nhạc sĩ chủ yếu dựa vào việc tái sử dụng các tác phẩm của họ, chẳng hạn như khi nhạc của họ được phát sóng trên đài, hay khi các công ty băng đĩa mua các bản thu âm nhạc của họ. Các nhà văn cũng thế, thu nhập chủ yếu của họ là từ việc bán các bản in sách từ bản gốc. Cả nhạc sĩ và nhà văn đều không sống bằng việc bán các “bản gốc” của mình, có nghĩa là họ chỉ bán đĩa CD hoặc sách được in từ bản gốc.
Trường hợp này hoàn toàn khác với nghệ sĩ mỹ thuật:
Các nghệ sĩ mỹ thuật sống dựa vào thu nhập từ việc bán bản gốc của các tác phẩm nghệ thuật của mình. Vì vậy, việc tái sử dụng các tác phẩm (như in vào sách giáo khoa, chiếu trên TV, trên mạng, dùng trong quảng cáo hay in trên áo quần v.v..) thường không được quan tâm.
Điều này lí giải tại sao các hệ thống bản quyền như của nhạc sĩ hay nhà văn thường phát triển mạnh hơn của các nghệ sĩ mỹ thuật.
Những yêu cầu của một bản quyền chuyển nhượng:
Bản quyền chuyển nhượng là rất cần thiết cho các nghệ sĩ. Đòi hỏi đầu tiên là luật pháp nước đó cần phải đưa ra luật bảo vệ bản quyền thật chặt chẽ. Nếu không có cơ sở pháp lý thì bản quyền của nghệ sĩ không được công nhận.
Tuy nhiên sự bảo vệ của luật pháp không chưa đủ, các nghệ sĩ cũng phải ra sức bảo vệ quyền lợi của mình.
ở Na-uy, luật bản quyền đã có cách đây khoảng trước sau năm 1961. Điều này có nghĩa là các nghệ sĩ mỹ thuật ở Na-uy đã được hưởng lợi từ bản quyền của mình từ lâu. Tuy nhiên, như bà Sjeggestad đã đề cập, các nghệ sĩ mỹ thuật Na-uy đã không thể tự mình đảm bảo tốt độc quyền của mình một cách riêng lẻ. Những người sử dụng các tác phẩm mỹ thuật cũng rất hạn chế trong việc tôn trọng bản quyền của tác giả. Việc sử dụng tái phép và không trả tiền thù lao cho các nghệ sĩ đã trở thành thông lệ không bỏ được. Các nghệ sĩ cũng không thể kiểm soát nổi tác phẩm của họ đã được sử dụng như thế nào, và họ cũng không nhận được đồng nào trong khi các tác phẩm của họ đang được sử dụng.
2. Sơ lược về lịch sử của Bono
Vì những lý do trên, BONO được thành lập năm 1992. Từ đó, số lượng nghệ sĩ tham gia vào tổ chức này tăng lên nhanh chóng, và hiện nay tổ chức này đã có gần 1900 nghệ sĩ Na Uy hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác.
Tổ chức BONO do Quốc hội lập nên và chọn ra Ban điều hành, gồm 6 thành viên bình thường, trong đó có 4 nghệ sĩ, một người đại diện cho quyền lợi của các nghệ sĩ đã qua đời, và một luật sư giám sát việc sao chép tác phẩm.
Thành viên của tổ chức BONO gồm các nghệ sĩ vẫn còn sống và những người nắm giữ bản quyền của các họa sĩ đã qua đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác như: họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà đồ họa, họa sĩ tạo hình, thợ thủ công, nhà nhiếp ảnh, nghệ nhân dệt, nhà quay phim và những nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực ý tưởng (hoạt động biểu diễn, lắp ráp, phương tiện tuyền thông đa phương tiện v.v).
Khi tham gia vào tổ chức này, các nghệ sĩ phải kí vào một thỏa thuận đồng ý chuyển tất cả các tác phẩm của mình cho tổ chức BONO quản lý bản quyền. Thỏa thuận này là duy nhất, có nghĩa là các nghệ sĩ không được chuyển nhượng quyền lợi của mình cho người khác. Thỏa thuận này là một công cụ cho phép BONO cấp giấy phép cho những ai muốn sử dụng tác phẩm của những thành viên của tổ chức. Đối với trường hợp sử dụng cho mục đích đơn giản, chẳng hạn như khi một nhà xuất bản muốn sử dụng một tác phẩm để in sách giáo khoa, BONO không cần hỏi ý kiến tác giả của tác phẩm đó trước mà có thể cấp phép và nhân danh tác giả thu về một khoản tiền thù lao. Đối với trường hợp sử dụng cho những mục đích lớn hơn, chẳng hạn như một công ty muốn sử dụng một tác phẩm để quảng cáo cho một sản phẩm của họ, BONO phải hỏi ý kiến tác giả của tác phẩm đó trước, sau đó giao quyền kiểm soát cho tác giả và cho phép họ thu thêm một khoản tiền ngoài khoản tiền mà BONO đã yêu cầu.
Do đó, khi trở thành một thành viên của tổ chức BONO, các nghệ sĩ sẽ thu được lợi nhuận từ các chuyên gia của BONO, trong khi đó vẫn duy trì được quyền kiểm soát những tác phẩm đang được sử dụng của mình.
Vì vậy, không lâu sau khi được thành lập vào năm 1992, BONO đã đưa ra những luật định cần thiết và những thành viên chủ chốt hiện nay chỉ có một thử thách chủ yếu cần phải vượt qua là nhận được sự chấp thuận từ phía người sử dụng tác phẩm, hay nói cách khác là thuyết phục họ tôn trọng bản quyền của tác giả.
Lúc đầu, chúng tôi sử dụng luật pháp và sự thật rằng giá trị của tác phẩm chủ yếu do tác giả tạo nên, do đó chúng tôi hơi có một chút quá khích và gần như công kích những ai không được cho phép mà sử dụng những tác phẩm bất hợp pháp. Kết quả là có lẽ chúng tôi được những người sử dụng tác phẩm tôn trọng nhưng chúng tôi cũng có không ít kẻ thù.
Những tranh luận và phản biện tiêu biểu từ phía người sử dụng tác phẩm:
“Tại sao chúng tôi phải trả tiền khi sử dụng tác phẩm của các tác giả trong khi chúng tôi cũng góp phần quảng bá tác phẩm và giúp họ trở nên nổi tiếng hơn? “
Câu trả lời của chúng tôi:
Không phải lúc nào việc sử dụng tác phẩm cũng giúp tác giả trở nên nổi tiếng hơn và dù sao đi nữa vẫn không xảy ra mâu thuẫn giữa các tác giả trở nên nổi tiếng, do đó phải trả tiền khi sử dụng tác phẩm.
“Chúng tôi đã phải trả tiền cho cơ quan phụ trách quản lý tranh ảnh khi thuê hình ảnh của một tác phẩm nghệ thuật “
Câu trả lời của chúng tôi:
Khi bạn thuê hình ảnh của một tác phẩm nghệ thuật, bạn phải trả tiền cho nhà nhiếp ảnh hoặc cơ quan phụ trách quản lý tranh ảnh, nhưng bạn cũng trả tiền bản quyền cho tác giả có tác phẩm được chụp.
“Chúng tôi không có một khoản tiền dự trữ dành riêng trong ngân sách của mình để trả tiền bản quyền tác giả... “
Câu trả lời của chúng tôi:
Bằng cách nào đó bạn phải trả số tiền này cho tác giả, và sau đó bạn phải đảm bảo rằng phải xây dựng một khoản mục trong ngân sách của mình để chi trả những chi phí bản quyền liên quan.
Ban đầu, đa phần hoạt động của chúng tôi là nhằm vào việc sử dụng bất hợp pháp các tác phẩm nghệ thuật. Chúng tôi tự phát hiện ra hoặc được những thành viên trong tổ chức thông báo. Do đó, nhiều người sử dụng bất hợp pháp các tác tác phẩm khi bị phát hiện lần đầu đều phủ nhận, họ đột nhiên phải trả một khoản tiền mà trước đây họ không phải trả. Kết quả là, một vài người đe dọa sẽ không sử dụng các tác phẩm nghệ thuật nữa.
Rõ ràng rằng chúng tôi không lấy làm vui vẻ về điều đó. Dĩ nhiên chúng tôi không muốn ngưng việc sử dụng các tác phẩm nghệ thuật hoặc trở thành một trở ngại cho người sử dụng. Ngược lại, chúng tôi rất khuyến khích việc sử dụng các tác phẩm nghệ thuật và muốn trở thành cầu nối giữa các tác giả với những người muốn sử dụng tác phẩm của họ.
Một thời gian sau, những người sử dụng các tác phẩm bắt đầu thấy thuận lợi khi họ chỉ cần liên hệ với một tổ chức và có được một giấy phép thay vì phải tìm kiếm hàng trăm họa sĩ hoặc người nắm giữ bản quyền để có được hàng trăm giấy phép. Họ nhận ra rằng nhờ có tổ chức BONO, việc sử dụng bản quyền được dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn.
Một thời gian ngắn sau khi được thành lập, chúng tôi đã đi đến những thỏa thuận hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện luật bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác trên toàn thế giới. Do đó, số nghệ sĩ Na Uy và nước ngoài mà chúng tôi đại diện tăng lên nhanh chóng. Điều đó làm cho chúng tôi trở thành một niềm khao khát đối với những ai muốn sử dụng các tác phẩm nghệ thuật.
3. Quản lý của BONO ở Nauy về bản quyền của các nghệ sỹ mỹ thuật: thực tế và thách thức
Thực trạng
Hiện nay, chúng tôi đã có thỏa thuận với 39 tổ chức trên toàn thế giới hoạt động trong cùng một lĩnh vực và đại diện cho hơn 50.000 nghệ sĩ trong nước và ngoài nước.
Riêng năm 2008, chúng tôi thay mặt cho những nghệ sĩ mà chúng tôi làm đại diện đã thu được 11,5 triệu kroner (tương đương 28,8 tỷ đồng Việt Nam). Sau khi trừ đi chi phí quản lý, khoản tiền còn lại tương đương 75% tổng thu sẽ được phân phối cho nghệ sĩ. Tổng cộng từ năm 1992 đến nay, BONO đã chi cho nghệ sĩ số tiền khoảng 66 triệu kroner (tương đương 165 tỷ VNĐ).
Đội ngũ chúng tôi gồm 5 người, và các lĩnh vực hoạt động chính liên quan đến:
- Giấy phép
- Quyền bán lại
- Trợ giúp/tư vấn pháp lý
Giấy phép
Về cơ bản, không có hạn chế nào liên quan đến việc tác phẩm nghệ thuật đang được sử dụng như thế nào. Dưới đây là một vài ví dụ:
Các đơn vị điển hình có liên quan đến sử dụng tác phẩm nghệ thuật là nhà xuất bản, viện giáo dục, cơ quan quảng cáo, báo chí và truyền thông, các hãng truyền hình, các viện/tổ chức/công ty khác.
Điểm chung nhất ở những đơn vị này là họ cần phải xin phép và cần có một giấy phép từ người nắm giữ bản quyền/BONO. Có thể chia họ thành 2 nhóm chủ yếu sau:
Nhóm I: là nhóm những đơn vị cần phải xin phép để được sử dụng một lần tác phẩm nghệ thuật (chẳng hạn như có một công ty muốn sử dụng một tác phẩm nghệ thuật trên tờ bìa ngoài cùng của tập báo cáo thường niên của họ).
Nhóm II: là nhóm những đơn vị cần phải xin phép để được sử dụng tác phẩm nghệ thuật thường xuyên.
Cho đến nay, chúng tôi rất tin tưởng vào những khách hàng/người sử dụng đã liên lạc với chúng tôi để làm rõ vấn đề bản quyền. Tuy nhiên, điểm mấu chốt của chúng tôi đã trở nên rất rõ ràng; thay vì như thế, chúng tôi chủ động liên lạc trước với những đơn vị sử dụng và cung cấp cho họ giấy phép hoặc cái gọi là thỏa thuận khung, khiến cho việc sử dụng các tác phẩm nghệ thuật của các thành viên chúng tôi trở nên dễ dàng, đồng thời đảm bảo được khoản thù lao cho nghệ sĩ, và thuận lợi cho việc kiểm soát nữa.
Năm ngoái (2008), chúng tôi thay mặt cho số nghệ sĩ mà chúng tôi đại diện thu được 7,2 triệu kroner (tương đương 18 tỷ VNĐ) thông qua hoạt động cấp giấy phép.
Loại hình sử dụng điển hình nhất:
Loại hình sử dụng điển hình nhất:
Thách thức
Chúng tôi cũng đang phải đối mặt vô số thách thức đến từ hoạt động cấp phép, nhưng vì thời gian hạn chế nên tôi không thể trình bày hết những khó khăn được. Tuy vậy, tôi sẽ cố gắng đề cập đến một vài trong số những khía cạnh mà ở đó chúng tôi cho rằng “còn nhiều việc cần phải làm”:
- Xây dựng những nội dung thỏa thuận với người sử dựng nhiều như báo chí.
- Sử dụng tác phẩm nghệ thuật bằng hình thức kỹ thuật số; phát triển các hệ thống đang tồn tại, cơ cấu biểu thuế và hợp đồng.
- Giúp nghệ sĩ tránh “các hợp đồng không công bằng” (là những hợp đồng mà ở đó họ phân hết quyền hạn của họ).
- Đấu tranh chống lại phong trào đang hình thành trong công chúng là muốn tống khứ hết bản quyền.
- Đảm bảo rằng việc cấp phép càng phù hợp và thuận lợi cho người sử dụng càng tốt, và như vậy sẽ khuyến khích vấn đề sử dụng tác phẩm nghệ thuật nói chung.
- Thực tế là những nghệ sĩ trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác đang không ngừng lao động sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật theo một quan điểm bản quyền phức tạp hơn trước đây, chẳng hạn như nghệ thuật dựa trên các khái niệm, thu hình nghệ thuật, biểu diễn nghệ thuật v.v..
Quyền bán lại
Quyền bán lại cho phép các nghệ sĩ nhận được những khoản tiền bản quyền mỗi khi tác phẩm nghệ thuật của họ được bán bởi nhà đấu giá, triển lãm hay nhà buôn. Tiền bản quyền được tính toán dựa trên phần trăm của giá cả tác phẩm. Phần trăm này thường giao động từ 4 đến 5% cho những tác phẩm được bán với giá khoảng 50.000 Euro (1 tỉ đồng Việt Nam), và thấp xuống 0,25% đối với những tác phẩm đắt nhất. Tiền cho quyền bán lại cao nhất mà một nghệ sĩ có thể nhận được từ mỗi lượt bán là 12.500 Euro (250 triệu đồng Việt Nam).
Bởi sự hài hòa của quyền bán lại tại Liên minh châu Âu (EU) và những nguyên tắc của quyền bán lại nên quyền này đã được bổ sung vào luật pháp Na-uy và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2007. BONO đã được các cơ quan có thẩm quyền của Na-uy đề cử là một tổ chức thay mặt các nghệ sĩ có quyền tập hợp và phân bổ quyên bán lại.
Trong năm đầu nắm giữ quyền bán lại, chúng tôi, thay mặt các nghệ sĩ đã thu được khoảng 6,7 triệu đông Na-uy (16,8 tỉ đồng Việt Nam). Điều này là hết sức thành công, đặc biệt Na-uy chỉ có chưa đầy 5 triệu dân.
Bất kì ai đã từng theo sát chỉ thị quyền bán lại ở Liên minh châu âu đều có thể nhận thấy rằng các nghệ sĩ và các tổ chức của họ đang ra sức chống lại nhóm các nhà đấu giá có danh tiếng của Anh Quốc, kể cả Sotheby và Christie. Nhóm này làm bất cứ điều gì có thể nhằm loại trừ các chỉ thị và tước bỏ quyền của các nghệ sĩ. Họ kiềm hãm sự phát triển của những làn sóng chỉ thị mới, tuy nhiên tất cả đều không thành.
Quyền bán lại là quyền cá nhân. Như bà Sjeggestad đã đề cập, một phiên bản khác của quyền này đã tồn tại ở Na-uy được 60 năm. Từ năm 1948, quỹ Niềm tin cho các Nghệ sĩ Mỹ thuật, hay còn được biết đến với tên gọi “Quỹ 3%”, đã được thành lập ở Na-uy. Quỹ này thu 3% thuế cho tất cả các tác phẩm nghệ thuật được bán công khai, không phân biệt các tác phẩm mỹ thuật mới bán lần đầu hay được bán lại, các tác phẩm nghệ thuật được bảo vệ bản quyền hay không được bảo vệ bản quyền.
Vì đi ngược lại quyền bán lại nên Quỹ 3% không phải là một hệ thống dựa trên cơ sở bản quyền, nơi mà các nghệ sĩ được trả tiền cho các tác phẩm được bán. Thay vào đó, nó là một nét chính trị văn hóa, một hệ thống tập thể, nơi mà lệ phí được tích lũy nhằm tái phân bổ và viện trợ cho các nghệ sĩ già Na-uy và những đồng nghiệp có thu nhập thấp của họ, cũng như là giải thưởng cho các nghệ sĩ trẻ tài năng.
Nhờ sự hợp tác đắc lực giữa Quỹ Niềm tin và tổ chức BONO mà các cơ quan có thẩm quyền của Na-uy đã quyết định đưa ra một khung chuẩn, nơi mà Quỹ Niềm tin ban đầu từ 3% tăng lên thành 5%, làm cho nó gần hơn với mức của quyền bán lại. Quyền bán lại cá nhân đã thay thế hệ thống tập thể bởi vì nó liên quan đến sự bán lại của các tác phẩm nghệ thuật được bảo vệ bản quyền.
Tổ chức BONO và Quỹ Niềm tin đã thống nhất quyền bán lại và “hệ thống cũ” thành một tên mới là “Kunstavgiften” (Thuế nghệ thuật và phí nghệ thuật). Thật vậy, chúng ta có thể hưởng lợi từ một hệ thống đã có từ khoảng năm 1948. Một vài sự cải đổi là cần thiết bởi vì chúng ta cũng đang cần những thông tin cụ thể về mỗi lượt bán chứ không phải chỉ cần những chi tiết về giá trần, và với một số công cụ trợ giúp mới như các trang web nơi mà các nhà buôn nghệ thuật, các triển lãm đã dễ dàng quyết định trước họ sẽ trả tiền hay không, và nếu có thì là bao nhiêu.
Thách thức
Mặc dù quyền bán lại vẫn đang tồn tại và khá ổn tại Na-uy nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với một số thách thức cả ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.
ở cấp độ quốc gia thì nhiệm vụ lớn nhất của chúng ta là phải chắc chắn rằng những nhà buôn chuyên nghiệp của thị trường mỹ thuật, những người trợ giúp trong việc bán tác phẩm giữa các cá nhân, phải thật sự tuân thủ quyền bán lại mà các nghệ sĩ có quyền được hưởng. Các hình thức mua bán này thật rất khó phát hiện bởi vì chúng không diễn ra tại các sàn đấu giá hay các triển lãm. Tuy nhiên, những quy định trong Luật bản quyền của Na-uy đã cho chúng ta một số biện pháp nhằm giúp tiếp cận một số thông tin. Hy vọng rằng chúng ta có thể tìm ra các nhà buôn nghệ thuật của những cuộc mua bán này mà không cần dùng đến các biện pháp trên.
ở cấp độ quốc tế thì thử thách của chúng ta là phải duy trì các chỉ thị. Thậm chí quyền bán lại chỉ là một phần nhỏ của thị trường nghệ thuật và quyền này không có tác động xấu đến thị trường nghệ thuật, nhóm các nhà đấu giá vẫn đang cố gắng cướp đi quyền thu nhập chính đáng của các nghệ sĩ.
Trợ giúp/ Tư vấn pháp lý
Tổ chức BONO đưa ra những giải đáp về các vấn đề liên quan đến bản quyền mỹ thuật cho các thành viên và không thành viên của mình, cũng như người sử dụng và công chúng nói chung. Hoạt động này không mang lại lợi ích thiết yếu cho các nghệ sĩ cũng như cho BONO, tuy nhiên nó là hoạt động thiết yếu cho việc bảo vệ bản quyền gia hạn của các nghệ sĩ mỹ thuật. Việc các nghệ sĩ tự hiểu được quyền sở hữu trí tuệ là gì là rất quan trọng, và điều này góp phần giúp họ duy trì bản quyền của mình.
Điều quan trọng là người sử dụng luôn luôn được thông tin về việc tại sao lại tồn tại cái được gọi là bản quyền và một trong những mục đích chính của nó là đảm bảo rằng các nghệ sĩ có năng lực sáng tạo các tác phẩm mới vì lợi ích chung. Mục đích là giúp cho người sử dụng và công chúng nói chung hiểu về bản quyền tác giả.
Các tổ chức của BONO làm việc trong lĩnh vực này thường giúp đỡ các nghệ sĩ khi họ tham gia hợp đồng với người sử dụng, chẳng hạn như đảm bảo không tước bỏ độc quyền khi các nghệ sĩ được yêu cầu sáng tác các tác phẩm công cộng. Chúng ta cũng đảm bảo rằng moral right của nghệ sĩ không bị xâm phạm, chẳng hạn như tên của tác giả phải luôn được nhắc đến mỗi khi tác phẩm được sử dụng.
Tôi cũng muốn nói thêm về vài chủ đề khác, chẳng hạn như sự liên kết giữa các nghệ sĩ trong các tổ chức về bản quyền trên khắp thế giới. Tuy nhiên thời gian có hạn nên tôi nghĩ những vấn đê tôi đã trình bày là khá đủ.
Theo tôi thì điều kiện của các nghệ sĩ ở Việt Nam khác xa với các nghệ sĩ ở Na-uy. Nhưng tôi hi vọng rằng tôi đã cung cấp cho các nghệ sĩ Việt Nam và tổ chức của các bạn những thông tin bổ ích về các vấn đề liên quan đến bản quyền.
|