Lượt truy cập: 372392
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Sáu, 27/03/2009-9:32 AM)
MỸ THUẬT VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ _ THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC
TRẦN KHÁNH CHƯƠNG - Trưa cửa Tùng - Sơn mài
Đất nước ta đã trải qua thời kỳ đổi mới được 20 năm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực Kinh tế - Văn hóa - Xã hội, An ninh Quốc phòng, Ngoại giao... vị thế của Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trên Thế giới. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập Kinh tế - Quốc tế. Cùng với sự hội nhập về Kinh tế, Văn hoá trong đó có Văn học - Nghệ thuật cũng có sự hội nhập mạnh mẽ, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, chúng ta cũng phải đối diện với những thách thức nhằm đưa Văn học - Nghệ thuật nước ta phát triển.

1/ Thành tựu bước đầu và thuận lợi:

- Từ các nghị quyết của Đảng và các chính sách của Nhà nước từ sau ngày đổi mới, tôn trọng mọi tìm tòi sáng tạo vì một nền Văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đường biên về nội dung và hình thức được mở rộng cho sáng tạo Mỹ thuật; nhiều loại hình thức trước đây còn mới lạ nay đã trở nên phổ biến.

- Đội ngũ nghệ sĩ tạo hình ngày càng đông đảo với nhiều lĩnh vực khác nhau của như Hội hoạ, Đồ hoạ, Điêu khắc Mỹ thuật ứng dụng nghiên cứu, lý luận phê bình mỹ thuật. Từ năm 150 hoạ sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương được đào tạo trong 20 năm (1925 -1945) đến nay mỗi năm các trường Mỹ thuật trong cả nước đã đào tạo được gần 1500 hoạ sĩ trên nhiều lĩnh vực của Mỹ thuật như: Nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật ứng dụng, sân khấu - điện ảnh, sư phạm Mỹ thuật ... Số lượng các nghệ sĩ tạo hình trong cả nước đã lên đến con số vạn.

- Điều kiện làm việc tốt hơn: Chưa thời kỳ nào các nghệ sĩ tạo hình có nhiều nguyên vật liệu, dịch vụ phục vụ sáng tác như thời kỳ này, từ loại hoạ phẩm tốt nhất của thế giới đến các loại khác, không gian làm việc, xưởng vẽ thuận lợi hơn.

- Điều kiện công bố tác phẩm thuận lợi, mỗi năm trên 300 triển lãm mỹ thuật ở trong nước và nước ngoài. Ngoài các triển lãm do Hội Mỹ thuật Việt Nam, Cục Mỹ thuật - Nhiếp ảnh - Bộ Văn hoá thể thao và du lịch, các Hội VHNT địa phương tổ chức theo truyền thống, hàng trăm triển lãm Mỹ thuật do các nhóm tác giả, tác giả đứng ra tổ chức ở trong nước và nước ngoài làm phong phú hoạt động Mỹ thuật đưa Mỹ thuật đến với công chúng rộng rãi và giới thiệu Mỹ thuật Việt Nam ra nước ngoài.

- Trao đổi truyền bá tác phẩm mỹ thuật đa dạng, năng động từ triển lãm toàn quốc 5 năm đến Triển lãm mỹ thuật Khu vực do Hội tổ chức hàng năm. Triển lãm chuyên đề theo chất liệu, nội dung, triển lãm nhóm, cá nhân. Một số triển lãm Mỹ thuật nước ngoài đã được tổ chức tại Việt Nam. Các triển lãm Mỹ thuật đã góp phần thúc đẩy sáng tác, giới thiệu tác giả và tác phẩm.

Chế độ bao cấp trong mỹ thuật đã dần xa, hầu hết các hoạt động mỹ thuật đều do các tác giả tự lo, từ điều kiện sáng tác đến công bố tác phẩm. Có thể nói từ sau năm 1990. Mỹ thuật đã đi đầu trong việc xã hội hoá. Cho đến nay chỉ còn mấy triển lãm mỗi năm là do nhà nước (TW và từng thành phố) và Hội Mỹ thuật Việt Nam đứng ra tổ chức bằng ngân sách nhà nước. Hơn hai mươi triển lãm mỹ thuật ra nước ngoài hầu hết đều do các tác giả tự lo.

- Tính chuyên nghiệp của các nghệ sĩ tạo hình được nâng cao. Nếu như trước đây hầu hết các hoạ sĩ Việt Nam đều làm việc trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, thì hiện nay số lượng hoạ sĩ tự do (sáng tác và sống bằng tác phẩm của mình), làm ở các công ty tư nhân ngày càng đông đảo. Nhiều hoạ sĩ đã sống được bằng việc trưng bầy và bán tác phẩm, hoặc thực hiện các công trình Mỹ thuật ...Các hoạ sĩ đã quan tâm đến việc khẳng định cá tính sáng tạo riêng biệt và con đường nghệ thuật riêng, tạo thương hiệu riêng.

- Sự tài trợ của Nhà nước qua giải thưởng hàng năm của các Hội tài trợ sáng tác góp phần kích thích sáng tác, đánh giá nhiều tài năng mới, hoạt động mỹ thuật đồng đều trong cả nước.

- Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã hình thành nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhiều người đã được giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, các giải thưởng trong nước và quốc tế tạo nên một nền Mỹ thuật Cách mạng - Hiện đại Việt Nam. Hiện nay lực lượng nghệ sĩ tạo hình trẻ ngày càng đông đảo, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tài năng trẻ có điều kiện phát triển.

- Nhiều loại hình mỹ thuật mới hậu hiện đại được tiếp thu và từng bước - đang được đàn tạo đưa đến với công chúng rộng rãi. Như Video Art, trình diễn, sắp đặt nghệ thuật hình thể... làm phong phú, đa dạng hoạt động mỹ thuật.

- Điều kiện giao lưu với nghệ sĩ nước ngoài ngày càng tốt hơn thông qua các trại sáng tác, triển lãm, giao lưu, sách báo, Internet... kích thích sáng tạo. - Các gallery Mỹ thuật phát triển với số lượng lớn, nếu đầu những năm Đổi mới, ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chỉ có vài Gallery thì đến nay ở 2 Thành phố này đã có hàng trăm Gallery, nhiều thành phố khác như: Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang ... cũng có nhiều Gallery. Các Gallery không những chỉ là nơi thường xuyên trưng bấy bán tác phẩm mà còn là nơi tổ chức triển lãm tranh, giới thiệu tác giả - tác phẩm với công chúng. Nhiều Gallery đã liên kết với các Gallery nước ngoài góp phần đưa Mỹ thuật Việt Nam hội nhập với Thế giới. Mỹ thuật Việt Nam đang từng bước làm quen với những hoạt động mới như đấu giá, hội chợ, curator (giám tuyển mỹ thuật) ...

- Việc tiêu thụ tác phẩm tốt hớn rất nhiều, bước đầu hình thành một thì trình bày mỹ thuật ở trong nước và nước ngoài, nhiều nghệ sĩ đã sống được bằng nghề. Các nghệ sĩ trẻ có tài năng sống tốt bằng tác phẩm của mình.

- Một số ngành thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng, Đồ hoạ ứng dụng có điều kiện phát triển mạnh mẽ phục vụ nhu cầu Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu của cuộc sống hiện đại.

- Ngành Điêu khắc phát triển mạnh các loại hình Điêu khắc ngoài trời như: tượng đại; tượng công viên; tượng vườn ... chất liệu bền vững ( Đá, Đồng, Sắt ...) ngày càng được sử dụng rộng rãi đảm bảo chất lượng sự bền vững của tác phẩm, ngôn ngữ Điêu khắc đa dạng hơn. Đội ngũ sáng tác Điêu khắc tượng đài ngày càng đông đảo gồm nhiều thế hệ và trưởng thành trong quá trình xây dựng tác phẩm.

- Ngành nghiên cứu - Lý luận và phê bình Mỹ thuật có điều kiện để phát triển. Ngoài tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam còn có nhiều đặc san như: Nghiên cứu Mỹ thuật của Viện Mỹ thuật - trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam; Mỹ thuật của trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; Sân khấu và Điện ảnh của trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh. Trên các tạp chí và báo đều có chương mục về Mỹ thuật ... Sách nghiên cứu và lý luận Mỹ thuật được xuất bản với số lượng đầu sách nhiều hơn NXB Mỹ thuật, NXB Văn hoá - Thông tin ...

- Nếu như trước đây, vài ba năm chúng ta mới xuất bản được một cuốn sách tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam, thì hiện nay, các tuyển tập này được xuất bản thường xuyên. Đặc biệt hàng năm có gần 20 đầu sách giới thiệu tác giả tác phẩm của cá nhân các nghệ sĩ tạo hình đã được xuất bản từ nguồn kinh phí của tác giả. Các sách Mỹ thuật góp phần giới thiệu, tôn vinh tác giả Mỹ thuật.

- Cuối cùng phải nói đến sự thay đổi trong phương thức hoạt động của Hội Mỹ thuật Việt Nam, đang từng bước thực hiện phương châm là một tổ chức Chính trị - Xã hội - Nghề nghiệp, tổ chức, tập hợp, động viên sáng tác, thẩm định tác phẩm trao tặng giải thưởng ... Nhiều hoạt động đã giảm tính bao cấp, thực hiện theo phương thức Xã hội hóa.

- Có thể nói Đổi mới đã giúp cho Mỹ thuật Việt Nam chuyển biến thuận lợi và nhiều thành tựu, đặt nên móng cho việc hội nhập Văn hoá trong đó có Văn học nghệ thuật và Mỹ thuật bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

2/ Tồn tại và thách thức:

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được trong thời kỳ đổi mới của đất nước và bước đầu hội nhập quốc tế, Mỹ thuật Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại và thách thức khi chúng ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

- Cũng như kinh tế, Văn hoá - nghệ thuật trong thời kỳ hội nhập quốc tế theo cơ chế thị trường - định hướng Xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển thì cơ chế thị trường cũng có những mặt tác động trái chiều đến sự phát triển:

Hoạt động sáng tạo Mỹ thuật đang bị thị trường hoá, nhiều tác phẩm vẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua, tạo nên những làn sóng sáng tác tác phẩm theo một đề tài hoặc một số lối vẽ ăn khách ví dụ một thời rộ lên vẽ Nude, rồi tranh Môđéc nay thì phong cảnh màu sắc mạnh, xanh, đỏ, vàng với con đường, hàng cây với những nét bút dầy... Một vài người còn cho rằng tác phẩm đỉnh cao của mỹ thuật không phải ở nội dung tư tưởng, ở ngôn ngữ nghệ thuật mà nằm ở giá bán tác phẩm cao. Họa sĩ tài năng là người bán được nhiều tác phẩm.

- Việc vi phạm bản quyền tác giả càng trở nên trầm trọng. Hiện tượng tranh giả, tranh nhái phát triển như nấm sau mưa, các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái...đều bị làm giả để bán ra thị trường nước ngoài kể cả đấu giá quốc tế... Gần đây nhất chúng ta biết việc nhà đấu giá danh tiếng ở Hông Hông đã đưa 5 tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái trong đó có đến 4 tác phẩm là tranh giả mà gia đình hoạ sĩ đã lên tiếng phản đối ...làm ảnh hưởng đến uy tín tác giả, uy tín mỹ thuật Việt Nam; làm giàu bất chính cho một số người.

- Trong giới nghệ sĩ tạo hình việc Phân hóa điều kiện sống, điều kiện làm việc càng cách xa nhau. Bên cạnh một số ít hoạ sĩ giàu lên từ việc bán tác phẩm và làm công trình thì đa số hội viện có mức sống trung bình, một số khác sống khó khăn do tuổi cao sức yếu, khó tiếp cận, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường không bán được tác phẩm ...do đó mức sống giàu nghèo trong giới rõ rệt; chênh lệch điều kiện sáng tạo, điều kiện sống, điều kiện giao lưu.

- Phân hoá trong lực lượng sáng tác do quan niệm, điều kiện sống, điều kiện tiếp cận với các quỹ, các tổ chức trong nước và nước ngoài tài trợ và giúp đỡ nghệ sĩ trong việc sáng tác và quảng bá tác phẩm. Xuất hiện tác giả nổi tiếng ảo do sự thổi phồng từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ các nhà buôn tranh ...

- Trong những năm gần đây và đặc biệt trong thời kỳ hội nhập đang hình thành thị trường tác phẩm Mỹ thuật. Tuy nhiên thị trường trong nước, người dân, kể cả những người có điều kiện kinh tế chưa quan tâm đến việc sưu tập tác phẩm Mỹ thuật. Thị trường Mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài chưa được quảng bá đúng mức, chưa có vị trí và giá trị tác phẩm cao trên thị trường Mỹ thuật quốc tế.

- Những quy định, luật pháp quốc tế về hoạt động quảng bá, mua bán tác phẩm vẫn chưa được phổ biến và thực hiện ở Việt Nam. Nhiều nghệ sĩ sáng tác cũng chưa quan tâm đúng mức đến vần đề này, chưa có một cơ quan tổ chức quan tâm giới thiệu những vấn đề này.

- Thị trường mỹ thuật thông qua các gallery mở rộng, các gallery hoạt động mang tính chuyên nghiệp chưa nhiều; nhiều gallery nhỏ, nhiều tác phẩm chất lượng thấp, tranh chép, tranh nhái lẫn lộn trong các tác phẩm trưng bầy ...Những năm gần đây, một số xưởng chuyên sao chép tranh xuất hiện ngày càng nhiều ở các thành phố lớn, việc vi phạm bản quyền của các xưởng này là vấn đề cần phải được quan tâm.

- Từ một nước nghèo làm kinh tế thị trường, kinh tế đô thị. Toàn cầu hoá là xu thế chung nhưng trong quá trình phát triển và hội nhập, Mỹ thuật Việt Nam phải làm thế nào để giữ được bản sắc văn hoá riêng. Công ước Unessco về đa dạng văn hoá năm 2006 đã nhấn mạnh đến việc giữ gìn bản sắc riêng để đảm bảo sự đa dạng của nền Văn hoá trên thế giới.

- Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, các nghệ sĩ tạo hình với số lượng đông đảo, sáng tác đa dạng không đễ nổi tiếng, để thành tác giả được công nhận là không dễ dàng, lực lượng nghệ sĩ trẻ có năng lực nhưng quá đông, Tác phẩm đa dạng, đa sắc nhưng không dễ trở thành cây cao bóng cả, những tác phẩm có tầm nghệ thuật và tư tưởng cao. Trong tình hình đó thước đo nghệ thuật cũng cần thay đổi cho phù hợp.

3. Đề xuất và kiến nghị

- Các nghị quyết TW và nghị quyết 23 của Bộ Chính trị lần này đều khẳng định các Hội VHNT là các tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, được Nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động, vì vậy trong các luật hoặc các nghị định của chính phủ cần chú ý khi đưa tên tổ chức này vào luật vì hiện nay một số luật hoặc nghị định của chính phủ chỉ đưa: Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị mà quên đưa tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp. Chính phủ cần sớm ra nghị định để thực hiện các vấn đề mà nghị quyết TW 3 của Bộ chính trị đã nêu ra nhằm hiện thực hoá và đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

- Đề nghị Đảng và Nhà nước nghiên cứu một số chính sách cụ thể đối với văn nghệ sĩ như Trung Quốc hiện nay đang áp dụng. Chẳng hạn đối với mỹ thuật, ở Trung Quốc người ta tổ chức các họa viện, chọn những hoạ sĩ xuất sắc biên chế trong các viện đó nhưng không phải làm nhiệm vụ hành chính sự nghiệp mà là các họa sĩ sáng tác chuyên nghiệp được hưởng lương ở cơ quan, cuối năm họa sĩ đó trình bày các tác phẩm đã sáng tác trong năm để hoạ viện đánh giá và chọn lưu giữ cho họa viện từ 1 đến 2 tác phẩm (giá trị tương đương với số tiền lương đã trả trong năm). Như vậy các hoạ sĩ có thu nhập thường xuyên, tập trung cho sáng tác và nhà nước vẫn thu lại được hiệu quả tài chính thông qua các tác phẩm được lưu giữ (gần giống với chế độ tổ sáng tác đã thực hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đối với các hoạ sĩ của Hội Mỹ thuật Việt Nam như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Lê Công Thành, Nguyễn Hải... sau này họ đều là những hoạ sĩ lớn của đất nước.

Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế để tiếp tục sáng tác các đề tài mà Đảng và Nhà nước khuyến khích, bên cạnh việc động viên tổ chức sáng tác Nhà nước cần có kế hoạch đặt hàng, mua tác phẩm cho các bảo tàng và các cơ quan nhằm tạo đầu ra cho các tác phẩm, có như vậy mới khuyến khích được các tác giả đi sâu vào sáng tác. Nếu giữ như trong tình trạng hiện nay sáng tác để triển lãm rồi tác giả đưa về lưu giữ thì khó động viên khuyến khích tác giả sáng tác những đề tài này.

Đề nghị Đảng và Nhà nước có kế hoạch xây dựng các viện Bảo tàng Mỹ thuật ở các thành phố lớn, đây là những địa điểm lưu giữ những tác phẩm mỹ thuật cho hậu thế, giới thiệu mỹ thuật Việt Nam cho công chúng và khách du lịch, đây cũng là nơi nâng can trình độ thẩm mỹ chỏ nhân dân và cũng là nơi góp phần vào phát triển kinh tế văn hoá của đất nước. Nhà nước cần đầu tư cho các bảo tàng để mua nhiều tác phẩm tết có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, việc đầu tư để mua tác phẩm cũng là động viên văn nghệ sĩ sáng tác, đồng thời là tài sản càng để lâu càng có giá trị tài chính phải chăng đó cũng là một hình thức dự trữ quốc gia.

- Đề nghị quan tâm vấn đề giao lưu văn học nghệ thuật với nước ngoài đặc biệt là đưa các triển lãm mỹ thuật Việt Nam ra nước ngoài thông qua các triển lãm của Bộ Văn hoá thông tin, Bộ ngoại giao, các Hội VHNT ở TW và địa phương, tạo điều kiện cho các nghệ sĩ ra nước ngoài tham quan và học hỏi. Tổ chức thêm những triển lãm nước ngoài vào trong nước, triển lãm định kỳ quốc tế ở Việt Nam để tăng cường giao lưu học hỏi lẫn nhau.

- Cần chú ý văn hoá đối ngoại, ở các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài cần có thư viện để giới thiệu văn hoá văn học Việt Nam, những tác phẩm mỹ thuật có chất lượng trưng bày trong toà đại sứ. Việc mua quà tặng các nguyên thủ quốc gia phải là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật để họ lưu giữ chứ không phải như một số tác phẩm đang mang tặng hiện nay (trước đây Bác Hồ khi đi thăm Inđônêxia, Lào, ấn Độ... Bác đều mang tặng các tác phẩm mỹ thuật của các hoạ sĩ có tên

tuổi hiện nay các tác phẩm ấy chúng tôi thấy có trong Bảo tàng mỹ thuật của đất nước họ).

Các phương tiện thông tin đại chúng cần giới thiệu mỹ thuật Việt Nam theo tinh thần trung thực, xây dựng nhằm giới thiệu, quảng bá, hướng dân thưởng thức nghệ thuật tạo hình cho công chúng rộng rãi trong nước và quốc tế.

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, mỗi một nghệ sĩ tạo hình cần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ hiểu biết về chính trị, xã hội, những đặc trưng lớn của thời đại để bắt nhịp với xu thế chung của Mỹ thuật thế giới. Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng với các hội viên của Hội cần đổi mới phương thức đổi mới các hoạt động nhằm hội nhập tết nhất vàn thời kỳ hội nhập kinh tế - quốc tế./.

Trần Khánh Chương

[ Các bài mới ]
[ Các bài đã đăng ]