Lượt truy cập: 372392
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Sáu, 27/03/2009-9:26 AM)
NỖI BĂN KHOĂN KHI ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC PHẢI ĐỐI MẶT VỚI TOÀN CẦU HÓA
Poster hội thảo Đổi mới của Mỹ thuật Vệt Nam tại Singgapore tháng 12/2008
Vấn đề “bản sắc dân tộc” trong mỹ thuật dằn vặt tôi đã lâu. Có hai luồng ý kiến trái chiều. Người thì bào: “ôi dào, làm gì có! Cứ bắt chước Tàu mà vẽ kém hơn, nặn kém hơn là thành ta thôi”. Người khác nói: “Ô không, vụng hơn, ngây thơ hơn, hồn nhiên hơn cũng tức là nghệ thuật hơn”. Chuyện tưởng đã cũ nhưng mới đây, trước sự biến chuyển mau lẹ ồn ào của nghệ thuật trẻ, nhiều người lớn tuổi lo lắng. “Thế này thì còn gì là bản sắc dân tộc nữa ? Mà cũng còn gì là nghệ thuật nữa ? “ Cảm giác của tôi là: Mỹ thuật Việt Nam đang rẽ vào một lối ngoặt mới, khác xa những gì đã định hình, trái với mong mỏi của người lớn tuổi, không chỉ do giới trẻ muốn vậy, mà còn vì điều kiện xã hội và nghệ thuật (với đầy đủ hai mặt phải - trái) thúc đẩy. Trước khi thử luận giải, xin phép lướt qua (hoặc là rào trước) cách nhìn của tôi với mệnh đề “Đậm đà bản sắc dân tộc “.

Cảm giác của tôi là: Mỹ thuật Việt Nam đang rẽ vào một lối ngoặt mới, khác xa những gì đã định hình, trái với mong mỏi của người lớn tuổi, không chỉ do giới trẻ muốn vậy, mà còn vì điều kiện xã hội và nghệ thuật (với đầy đủ hai mặt phải - trái) thúc đẩy.

Trước khi thử luận giải, xin phép lướt qua (hoặc là rào trước) cách nhìn của tôi với mệnh đề “Đậm đà bản sắc dân tộc “.

1/ “Đậm đà bản sắc dân tộc”- thật đáng khích lệ!

Ai cũng muốn vẻ đẹp của mình thật độc đáo, không lẫn với bất cứ người nào khác. Đó chính là cơ sở tạo nên bản sắc. Nhiều họa sĩ và nhiếp ảnh gia thích vẽ hay chụp các chợ phiên miền núi vì nơi đó có những dân tộc thiểu số với trang phục lạ kiểu, rực rỡ. Họ thật hấp dẫn vì bản sắc đậm đà. Thử hỏi nếu họ đã Kinh hóa, ăn mặc như người miền xuôi thì ai còn muốn vẽ vời chụp làm gì nữa? Như vậy, theo tôi, bản sắc là một phạm trù có lợi cho những giá trị tự thân, có tính truyền thống, phải độc đáo, dễ phân biệt. Nhờ có bản sắc mà dân tộc này khó lẫn với dân tộc khác, văn hóa của họ làm cho người khác phải để ý, và nếu độc đáo sẽ tạo sức hút... Tuy nhiên, chuyện này không đơn giản

Tôi từng biết 2 chuyện nhỏ, chẳng vui gì, về bản sắc. Chuyện 1: để giao lưu văn hoá, hai nước Bulgarie và Senegal cử đoàn văn công sang thăm nhau. Đoàn Senegal đi trước, múa kiểu châu Phi rất bốc, được nhiệt liệt hoan nghênh. Chỉ có điều sau đó, bộ trưởng văn hoá nước Bul gửi thư cho đồng cấp nước Se đề nghị các nữ vũ công của nước này phải đeo nịt ngực cho hợp thuần phong nước Bul. Vị bộ trưởng văn hoá Senegal trả lời đồng ý với điều kiện: sau đó, các nữ vũ công đoàn Bul khi sang Senegal diễn cũng phải để ngực trần cho hợp thuần phong nước Se. Tất nhiên, bộ trưởng nước Bul sợ quá, phải rút lại lời đề nghị. Chuyện 2: năng 1992, tôi được “nghe hơi nồi chõ” một hội nghị về vấn đề Hội nhập văn hoá toàn cầu. ở đó có một ông hiệu trưởng trường nghệ thuật cấp tỉnh của Pháp bảo tôi rằng: mai đây, khi văn hoá toàn cầu chung một mối thì chẳng cần phân biệt đâu là Việt Nam, đâu là Pháp nữa. Tôi phản đối và bảo: vâng, hội nhập có lẽ tất yếu, nhưng nếu chúng tôi gia nhập với nét đặc sắc riêng thì giá trị hơn nhiều. Ngược lại, nếu tham gia mà tay trắng thì đó là mọt con số 0 vô nghĩa, chẳng ai cần. Mà trong toán học thì mọi con số nếu cộng hay nhân với số 0 đều cho kết quả vô ích.

2/ Những tấm gương tuyệt vời về “Đậm đà bắn sắc dân tộc”.

Nổi bật nhất là Nhật Bản. Rõ ràng họ chịu ảnh hưởng Trung Quốc, nhưng lại tạo ra một hướng phát triển khắc hẳn. Thành tựu văn hoá của họ đã hoá thân vào mọi lĩnh vực và vươn xa ra toàn cầu. Lâu nay, mọi sản phẩm công nghiệp hiện đại của Nhật, ngoài chất lượng và bảo hành tuyệt hảo còn có kiểu cách không lẫn vào đâu được: đẹp mà lại còn có dáng vẻ rất Nhật.

Văn hoá các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nga... đều chịu ảnh hưởng của văn hoá Hy Lạp - La Mã cổ đại, được nhuộm thêm màu Cơ đốc giáo. Thế rồi mỗi nước tách ra một kiểu riêng, không hẳn biệt lập nhưng rất khó lẫn: Pháp điệu đàng, mơ mộng đến mức dài dòng văn tự; Đức suy tư dằn vặt kiểu triết học; Tây Ban Nha nồng nhiệt và khốc liệt; Nga có vẻ nặng nề, hơi thô nhưng tình cảm đằm thắm, buồn da diết...

Ngay cạnh chúng ta, tượng Chăm Pa và Khơ Me cùng tạc những vị thần ấn Độ mà khác nhau rõ rệt, có thể liếc mắt là phân biệt được, nếu đã từng để ý.

3/ Các cường quốc văn hoá thì sao?

ít ai ngờ được rằng suốt 200 năm sau khi Phật giáo ra đời, người ấn không hề dám tạc tượng Đức Phật mà họ hằng kính yêu chỉ bởi sợ Ngài quá cao đẹp, tranh tượng làm ra dù có xuất sắc đến đâu cũng là dở, làm hoen ố hình ảnh của ngài. Vì vậy các bàn thờ Phật đều để trống, bệ thờ cố lắm cũng chỉ dám tạc vết chân ngài. Sự việc bỗng thay đổi vào cuối thế kỷ thứ 4 tr.CN khi Alexandre đại đế chiếm miền Tây Bắc ấn Độ, mang theo làn gió văn hoá Hy Lạp... Người ấn mở to mắt nhìn các pho tượng thần tuyệt mỹ của kẻ ngoại bang và tự trách tại sao mình không làm được?... Kể từ đó xuất hiện trường phái Gandhara nổi tiếng: tượng Phật ấn Độ lai Hy Lạp. Tất nhiên, sau vài thế kỷ, người ấn đã dân tộc hoá tuyệt đối các tượng Phật của họ, nhưng trường phái Gandhara mãi mãi trở thành một ví dụ điển hình về chuyện vay mượn và bản sắc.

Tiếp theo, đến lượt người Trung Hoa nhập khẩu 100% đạo Phật của ấn Độ. Trong chuyện này, người Hán chẳng hề xấu hổ mà còn tự hào là đằng khác: khi đạo Phật mất dạng ở ấn Độ thì lại bừng nở và lan khắp Trung Quốc. Cũng chỉ sau một thời gian ngắn, các chùa và tượng Phật phương Bắc đã Hán hoá hoàn toàn, cả vóc dáng, sự tích lẫn triết thuyết đều bị “nắn dòng” sang kênh Trung Hoa. Tượng Phật của người Việt hiện tồn cũng chính là chịu ảnh hưởng từ nguồn này (và cũng đã “nắn dòng” sang kênh Việt Nam) dù khởi nguyên đã tiếp xúc trực tiếp với các nhà truyền giáo ấn Độ.

Kỳ lạ hơn hết thảy là cường quốc văn hoá Mỹ. Đó là một quốc gia non trẻ trong lịch sử thế giới và chỉ vừa mới đây thôi họ còn bị các “lão già” văn hoá châu Âu (vốn là tổ tiên của văn hoá Mỹ ) bĩu môi coi thường. Thế mà hôm nay, toàn thể thế giới hớn hở chờ ngóng phim của Hollywood, tất cả trẻ con đều say mê hoạt hình Walt Disney, thủ đô nghệ thuật thế giới dời từ Paris sang New York dù người Pháp chẳng muốn.

Người Mỹ có “bản sắc văn hoá dân tộc” không nhỉ ? Câu hỏi lỗi thời này đến nay vẫn còn làm một số “trưởng lão” ngành văn hoá băn khoăn.

4/ Vậy còn bản sắc văn hoá Việt Nam trong mỹ thuật ?

Bản sắc văn hoá Việt Nam đã được rất nhiều học giả nghiên cứu. Câu trả lời là: Có, bản sắc ấy được khẳng định. Nhưng trong lịch sử, nó đã từng phải lách qua muôn ngàn vật cản lớn nhỏ để tồn tại và có diện mạo như ngày hôm nay. Điềm đáng chú ý nhất, theo chúng tôi, là văn hoá Việt luôn dám tiếp nhận nhiều nguồn văn hoá ngoại mà cuối cùng vẫn Việt hóa ngon lành. Đầu thế kỷ 20, người Pháp từng coi văn hoá Việt là hình ảnh của Trung Quốc thu nhỏ, còn các cụ đồ nho uất ức vì chuyện Pháp hoá ( “Mả tồ tôi không táng bút chì” - thơ Tú Xương ). Kết quả lả đến nửa cuối thế kỷ 20 thì toàn thể đàn ông Việt đã từ bỏ búi tó, khăn động, áo dài cũng như chiếc khố, phần lớn đàn bà từ bỏ váy đụp, bao xanh, nón thúng quai thao... Trong khi ấy, bút chì, bút máy, bút bi đã thay thế, bút nho từ lâu lắm rồi và các thầy đồ nho cũng “tuyệt chủng” theo. Giai đoạn 1945-1975 chứng kiến nghệ thuật đại chúng hoá và vui phơi phới với lý tưởng cách mạng trong khi chiến tranh vô cùng tàn khốc. Tất cả các nghệ sĩ cùng vui cái vui của công dân một quốc gia mới giành độc lập và chấp nhận làm nghệ thuật phục vụ Tổ quốc mà quên hoàn toàn cái riêng tư. Họ rất tự hào là người Việt Nam. Đến những năm 1976-1990 của thế kỷ trước, vào thời bao cấp - hẳn các hoạ sĩ tầng trung niên còn nhớ rõ - có một từ ngoại nhập hết sức quen thuộc là “Khu đô giờ nhích”, nghĩa đơn giản chỉ là hoạ sĩ, nhưng ẩn ý được dừng để chỉ các hoạ sĩ bất tài vẽ theo lối mòn kiểu Hiện thực Xã hội chủ nghĩa của Liên xô. Cũng thời ấy, tranh dân gian được nghiên cứu sâu và đề cao vì đó là truyền thống và sáng tạo của nhân dân lao động. Nghe nói có một lãnh tụ của giới mỹ thuật từng định đề cao giá trị dân tộc độc đáo của dòng tranh Đông Hồ thì đúng lúc ấy, người quen của ông đi Trung Quốc về đưa tặng một tập tranh dân gian nước bạn cũng có hình “Bé ôm gà, ôm vịt”. Đồn rằng ông đã buồn rầu phát ốm. Sau này nghe chuyện, chính tôi cũng thấy buồn không kém gì ông. Chỉ có điều vì ở thế hệ trẻ hơn, sau đó chứng kiến nhiều chuyển biến long trời hơn trong lĩnh vực văn nghệ và bản sắc nên chúng tôi có điều kiện tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn, thấu hơn mà cũng ít kỳ vọng vào người khác nên đỡ thất vọng hơn.

5/ Mỹ thuật hiện đại Việt Nam - người ta chỉ nhìn thấy thành tựu

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, mỹ thuật thế kỷ 20 được coi là thắng lợi cực lớn. Nền Hội Họa chính thức ra đời (1925), trong đó, đặc biệt có sự thần kỳ của Hội Họa Sơn Mài - biến thể kỳ diệu, độc đáo, thoát thai từ sơn mài mỹ nghệ á Đông đã trì trệ với tuổi đời khoảng 3000 năm. Nền Điêu khắc hiện thực trên cơ sở khoa học ra đời. Nền Học Vấn Nghệ Thuật xuất hiện với các Trường Mỹ thuật - Mỹ nghệ được thành lập ở Biên Hòa (1903), Thủ Dầu Một (1903), Sài Gòn (1913), Hà Nội (1925), Huế... Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia được khánh thành (1966). Nhiều Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc được tổ chức. Số lượng họa sĩ có bằng cấp ngày càng vượt trội theo cấp số nhân.

Như vậy, mỹ thuật hiện đại Việt Nam là một trong những thành tựu đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam hiện đại. Đáng chú ý là dù nảy sinh nhờ tác động có chủ ý của người Pháp, lại phải song hành cùng chiến tranh và đại chúng hóa, thậm chí đôi khi khấu hiệu hóa nhưng mỹ thuật hiện đại Việt Nam vẫn rất rõ bản sắc dân tộc. Thật đáng tự hào! Nhưng cỏ lẽ cũng vì quá tự hào mà người ta đã “ngủ quên”. Còn tồn tại rất nhiều hạn chế. Trước thế kỷ 20, toàn bộ những điều kỳ diệu kể trên không mảy may có chỗ trong tư duy của mọi thức giả người Việt (khó hiểu thay, điều này trái ngược hẳn với mỹ thuật Trung Hoa - được coi là nguồn ảnh hưởng bao trùm và quyết định nhất lên toàn bộ mỹ thuật Việt Nam suốt 2000 năm). Thời còn ngồi ghế nhà trường Mỹ thuật (cũng là thời bao cấp), chúng tôi từng được dạy rằng: Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất đúng cho các nghệ sĩ. Vì vậy, thời ấy tranh Liên Xô được coi là mẫu mực (cùng với từ “Khu đô giờ nhích” kể trên). Đó cũng là thời mà việc tiếp xúc với các trường phái cận - hiện đại phương Tây cực kỳ khó khăn (dù thư viện trường vẫn có sách). Lời nhận định của đồng chí Trường Chinh vẫn còn đó, xin trích nguyên văn: “Ta không lấy làm lạ trên gốc cây gỗ mục của chủ nghĩa đế quốc hiện thời mọc lên những cái nấm sặc sỡ: chủ nghĩa lập thể (cubisme), chủ nghĩa ấn tượng (impressionnisme), chủ nghĩa siêu thực (surreálisme), chủ nghĩa đa đa (dadaisme), v.v... Có người cho rằng với những thứ chủ nghĩa ấy, “một kỷ nguyên kỹ thuật đã thay thế cho kỷ nguyên của chủ nghĩa nhân văn. Nhưng thật ra những chủ nghĩa kia chi là những hình thức văn nghệ phản khoa học, phản tiến hóa, khoác cái áo hào nhoáng của thẩm mỹ để mua vui cho một số ít người bóc lột... (Trường Chinh “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt nam” - Hội văn nghệ Việt Nanh xuất bản năm 1949. Nguyễn Phúc trích dẫn lại trong sách “Những khuynh hướng chủ yếu của Hội họa tư sản hiện đại”- trang 64 - NXB Văn hóa - Hà nội - 1978).

Hôm nay, đầu thế kỷ 21, chúng ta khỏi cần bình luận về nhận định sai lầm trên vì thực trạng xã hội và nghệ thuật Việt Nam đã đi quá xa so với hai thời điểm 1949 và 1978. Chúng tôi chỉ xin gợi lại để chuẩn bị lập luận cho các phần tiếp theo.

6/ Trong khi ấy, mỹ thuật thế giới thay đổi dữ dội.

Chỉ trong 20 năm cuối thế kỷ 20, mỹ thuật thế giới - không chỉ ở phần Âu-Mỹ - mà còn ở các nước và lãnh thổ sát nách nước ta như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Đại Loan, Hồng Kông, Singapore... đã thay đổi rất, rất nhiều. Do kinh tế phát triền vượt bậc mà mỹ thuật của họ được trợ lực bởi công nghiệp hóa (trong sản xuất họa phẩm), dịch vụ hóa (trong việc trình bày tác phẩm), thương mại hóa (gallery nhan nhản ở các thành phố và các điểm du lịch, quảng cáo tranh tượng nhan nhản trên sách báo và trên mạng), thậm chí xô bồ hóa (grafflti) hay “ê hề” hóa (có cửa hàng chép tranh ở Sài Gòn mà tôi biết chắc chắn tháng nào cũng xuất hàng container ảnh chép ra nước ngoài). Trước kia, họa sĩ Việt Nam phải sau vài chục năm mới biết đến tác phẩm mới của Picasso hay Matịsse, nay thì do các phương tiện truyền thông hiện đại mà ta có thể biết ngay sau thậm chí chi một phút, dù tác phẩm đó ở cách xa nửa vòng trái đất. Cũng do kinh tế phát triển vượt bậc mà mỹ thuật được xã hội hóa cao độ: Ai cũng có thể thành họa sĩ ! (miễn là có đủ giấy, bút, mầu - quá dễ và có cá tính - không khó, nhất là khi nghệ thuật hiện đại và đương đại dường như không có thước đo cụ thể). Mỹ thuật không phải là đặc quyền của các họa sĩ được học hành bài bản lâu tới năm - bảy năm nữa mà là thú vui của tất cả mọi người, nếu họ muốn. Chuẩn mực của nghệ thuật và mỹ thuật thậm chí lung lay tận gốc khi Cái Đẹp chưa chắc đã là mục đích tối thượng của nghệ sĩ. Đó có khi là cái lạ, cái quái đản, cái thật hơn cả cái thật, cái hạ đẳng đặt vào chỗ tối ưu, cái phóng đại đặt vào chỗ tối thiểu, cái phản ứng, thậm chí cái xấu mà chưa chắc đã xấu! Nghệ thuật đương đại một mặt phổ thông hóa, nhưng mặt khác nếu ở đỉnh cao, lại cá biệt hóa, đi vào tháp ngà chứ không có trách nhiệm dành cho đại chúng.

Cuối thế kỷ 20 chứng kiến sự xuất hiện của những hình thức nghệ thuật mới, có vẻ rất mốt như Trình diễn, Sắp đặt, Video-art, Ready-made, Grafflti v.v... Đáng chú ý: tác giả đa số là dân mỹ thuật còn ngôn ngữ thì kết hợp cả hội họa, điêu khắc, đồ họa, đồ vật có sẵn, âm thanh, âm nhạc, ánh sáng, vũ đạo, sân khấu, điện ảnh, thậm chí cả y tế, hóa học, giao thông.v.v.. Có lẽ vì vậy mà các hình thức đó được gọi là Nghệ thuật (Art) chứ không phải là Mỹ thuật (Beaux-arts hay Fine- Art). Đó là điều khó hiểu cho ngay cả những người có học vị cao (chứ đừng nói thường dân) và là món ăn hết sức khó nuốt đối với tuyệt đại đa số những người đang ở cương vị lãnh đạo mỹ thuật nước ta (khi họ chỉ biết rằng nghệ thuật phải có ích cho đại chúng, dù đó là đại chúng ít học). Tại sao nhỉ? Họ đều băn khoăn như vậy, nhưng ít dám hỏi cho rõ vì sợ mang tiếng thiếu hiểu biết, vả lại, như họ ví: nghệ thuật chỉ như rau thơm, rau mùi so với cuộc sống như bữa ăn (chẳng ai ăn vã rau thơm đến no nhưng thịt, cá thì có thể), do đó họ nghĩ vai trò của nghệ thuật chẳng quan trọng gì. Mà cũng rất ít người có thể trả lời rõ cho họ, dù có đủ bằng cấp mỹ thuật và lý luận mỹ thuật. Vấn đề chẳng hề đơn giản. Ngay cả các nhà chuyên môn cũng cần phải cập nhật liên tục, phải học không ngừng (khẩu hiệu của Lê Nin: “Học, học nữa, học mãi !” vĩnh viễn đúng, kể cả với bậc có học thức cao nhất).

7/ Và hình ảnh Việt Nam cũng đang thay đổi đến tận gốc đến tốc độ chóng mặt.

Chính chứng tôi đây, vào thời trai trẻ, khoảng 30 năm trước, từng cả tin vào “hằng số” phong cảnh làng quê Việt Nam (gọi là “hằng số” vì nó đã bất biến từ hàng nghìn năm nay) mà người ta nói đến nhàm tai là “cây đa, bến nước, con đò” hay “luỹ tre làng”. Thế mà hôm nay, cái hằng số ấy đã và đang biến mất từng ngày. Còn bến nước thì thôi cây đa, còn con đò nhưng không phải bằng gỗ nữa mà bằng sắt hay xi măng vả rời bến thì nổ máy phành phạch. Lũy tre làng bị nhà cửa mọc ra như nấm đè bẹp. Thời những năm 60, Xuân Diệu còn mơ “ngói mới” thì nay “nhà mái bằng” đã “bê tông hóa” không chỉ cả làng mà mọi làng. “Sông Cầu nước chảy lơ thơ ? mà nay mấy ai dám tắm vì đầy hóa chất. Sông Hồng cuồn cuộn -biểu tượng của nguồn nước và nguồn phù sa dồi dào cho đất Việt thì vài năm nay đến mùa lại cạn trơ đáy. Thuở bé chúng tôi từng thuộc lòng rằng “Nước ta rừng vàng, biền bạc, đất phì nhiêu, nhân dân cần cù chăm chỉ, các nước anh em giúp đỡ nhiều”. Nay mà ai còn tin như vậy thì quả thực là ngây thơ!

Chỉ vài chục năm nay, hình ảnh của người Việt đã thay đổi dữ dội. Để tóc dài không chắc đã là đàn bà, cắt tóc ngắn không chắc đã là đàn ông, cạo trọc không chắc đã là sư, mầu tóc vàng hay đỏ hay nâu hay “hai lai” không chắc đã là Tây hay Hàn Quốc, đẹp trai không chắc đã mê gái, xinh gái không chắc đã thèm lấy chồng nội, xấu gái hay “nái sề” vẫn có thể lừa bán qua biên giới đắt như tôm tươi... Khái niệm “choai choai” cần phải xem lại vì các chú mới lớn này có khi cao tới 1m80 hay 1m90. Đàn ông Việt bắt đầu mắc các loại bệnh không hề bởi vi khuẩn hay vi rút: thừa cân, thừa mỡ, thừa bụng thừa cằm... Xem các phim Việt nổi tiếng như “Làng Vũ Đại ngày ấy”, “Cánh đồng hoang” rất buôn vì dù thiếu ăn lắm lắm mà Chí Phèo và anh du kích nọ vẫn bụng tỏ như ông Di Lặc. Chúng tôi đưa sinh viên đi thực tập mà chưng hửng thấy nhiều làng dân tộc ở Việt Bắc đã ăn mặc hoàn toàn như người Kinh. Chụp ảnh ở Sa pa thì các bé dân tộc một tay che mặt, tay kia xòe ra đòi “măn ni! măn ni?” Nhà thơ Nguyễn Duy có bài thơ hay về người bà tần tảo với đoạn kết khi trở về sau cuộc chiến thì “bà chỉ còn là một nấm cỏ mà thôi”. Nay nếu ta về quê thì dọc đường sẽ thấy vô số những khu mộ sầm uất, bóng loáng, sặc sỡ với vô vàn kiều cách. Đề ý kỹ, ta sẽ giật mình thấy nhiều mô hình đặc sắc của kiến trúc thế giới thu nhỏ: nào là chóp củ hành, nào là chóp nhọn hoắt có gà trống Gô loa, lại cả chùa Một Cột, thận chí tháp Eiffel, Lầu Năm Góc hay tòa Nhà Trắng lẫm liệt của Mỹ... Thật là vừa hài hước vừa trọc phú! Chắc các cụ nằm dưới mộ cũng không ngờ sau này con cháu làm cho mình oai đến thế, oai “nhất quả đất” còn gì nữa ? Đến tổng thống Mỹ cũng làm sao dám mơ kiếp sau được an nghỉ dưới nền dinh tổng thống? Còn tổng thống Pháp làm sao dám mơ nằm đời đời dưới tháp Eiffel?

Thuở bé, thời sơ tán, chúng tôi nghe Mỹ dọa “sẽ đưa Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá “. Kết quả Mỹ thua vì không biết thả bom vào đâu cho hiệu quả. Thuở ấy, toàn dân nông thôn (90% dân số) không dùng điện, họ cũng chẳng mấy khi ra đến đường nhựa, xe đạp còn hiếm chứ đừng nói đến Ô tô (nên mới có ca dao đùa rằng “Mỗi người làm việc bằng hai, Để cho chủ nhiệm mua đài, mua xe” - tức là tầm cỡ chủ nhiệm hợp tác trở lên mới có khả năng mua xe đạp và radio lắp pin. Thời ấy mỗi làng chỉ có vài nhà gạch, còn lại toàn tranh, tre, nứa, lá. Bởi vậy, bom Mỹ hoàn toàn vô tác dụng, kể cả có thả trúng đích. Vậy mà nay đường sá, cầu cống, nhà cửa, đô thị, công trường, nhà máy, sân golf, nghĩa trang... mọc lên như nấm, lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp của quốc gia vốn đã chẳng bao la gì cho cam. Xe đạp, xe máy, Ô tô đông như ong vỡ tổ trên mọi đường phố.

ở lĩnh vực tinh thần và học vấn, mới ngày nào chúng ta còn chống mê tín, dị đoan quyết liệt khiến cho ảnh hưởng của các tôn giáo giảm tới mức tối thiểu. Thế mà mới đây, chính phủ phải ra lệnh cấm dùng xe công đi lễ đền, chùa ngày lễ, tết. Thế hệ mới lớn thông thuộc các anh hùng lịch sử Trung Quốc mà ngơ ngác khi bị hỏi về các vĩ nhân Việt Nam (kỳ thi đại học năm 2007, khối C - chuyên văn sử địa - có 95 ;74% thí sinh chi đạt điểm môn sử dưới 4,5 - tức là cứ 100 em thì có gần 96 em chẳng biết gì về tổ tiên). Chính chúng tôi từng thử nhiều lần với sinh viên Đại học Sân khấu Điện ảnh: khi kiểm tra viết đã dặn đi dặn lại trước rằng sẽ chi chấm chính tả cái đề bài mà các em chép theo chữ thầy viết trên bảng (mà thày hứa tha lỗi viết ngọng l-n, s-x, ch-tr... hứa tha các dấu chấm, phẩy, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã... hứa tha lỗi quên viết hoa...). Vậy mà 10 lần thì cả 10 lần đều có tỷ lệ 1/5 - 1/6 số em chép lỗi. Xin lưu ý là: chỉ chép thôi mà lỗi nặng (dù đã giao hẹn trước chứ không phải đánh bẫy)! Đây là cũng một cách để giải thích vì sao hàng năm, sinh viên tốt nghiệp rất đông khắp Trung-Nam-Bắc mà nhiều công ty vẫn không tuyển được nhân viên đạt chất lượng.

Tóm lại: Việt Nam đang thay đổi chóng mặt, có cả điều hay, điều dở (có khi vì hay mà dở, như vì giàu lên, ăn uống nhiều mới bị bệnh béo phì). Vậy chúng tôi nêu ra những thay đổi nhiều quá như trên để làm gì ? Chứng ta từng được học: Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội và kiểu gì cũng phản ánh xã hội. Lẽ nào xã hội thay đổi đến mức như vậy mà nghệ thuật cứ phải vẽ mãi một kiểu về cái đẹp xưa cũ ?

8/ Điều kiện dành cho mỹ thuật Việt Nam thay đổi.

- Trước hết, do đổi mới, mở cửa mà nay họa sĩ Việt Nam nhận được thông tin nghề nghiệp thoải mái hơn, nhiều hơn, chi tiết hơn. Họ cũng tiếp xúc với nước ngoài dễ hơn đo được phép khá dễ dàng ra nước ngoài hoặc đồng nghiệp ngoại, triển lãm ngoại, hội thảo về nghệ thuật ngoại, sách báo, phim ảnh ngoại tự đến, thậm chí nhiều tới mức không kịp xem.

- Những khuôn khổ bó buộc trước đây nay được lặng lẽ dỡ bỏ như: “Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa”, “chính trị là thống soái”, “phục vụ công nông binh”, “học tập văn nghệ các nước Xã hội chủ nghĩa”, “gột rửa tàn dư lạc hậu và phản động của nghệ thuật tư sản”.v.v..

Vật liệu họa phẩm ngày nay ê hề; đa dạng, lắm nguồn, rất dễ mua ở hai trung tâm nghệ thuật của đất nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Một tầng lớp thợ làm khung, căng toan, quét nền, cắt bo, lồng kính... ngày càng đông đảo ở hai trung tâm kể trên khiến cho quy trình sản xuất nghệ thuật nhàn nhã và ngon ăn hơn rất nhiều. Tóm lại, họa sĩ chỉ việc vẽ và triển lãm.

- Bất kể bạn là ai, bất kể bằng cấp và học vấn, nếu bạn yêu mỹ thuật và có tranh, tượng thì đều có thể triển lãm tác phẩm của mình, miễn rằng tác phẩm đó không phạm pháp (tuy nhiên, riêng. Trình diễn hay Sắp đặt thì xin phép rất khó khăn nếu định thực hiện nơi công cộng do phía cấp phép không muốn có sự hiểu lầm khi khoảng cách giữa công chúng vả nghệ sĩ hiện nay quá xa).

- Số lượng các trường Mỹ thuật tăng lên nhiều trong toàn quốc: sinh viên có thể lấy bằng tốt nghiệp mỹ thuật ở 5 trường đại học tại Hà Nội, 4 tại TP HCM, 1 tại Huế. Ngoài ra còn rất nhiều trường Cao đẳng và Trung cấp có bộ môn mỹ thuật ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và khoảng hơn 20 tỉnh trên toàn quốc.

9/ Thân phận và nhận thức của họa sĩ Việt Nam thay đổi.

Thời bao cấp họa sĩ chỉ có thể bán tranh cho nhà nước (nếu tranh hợp với chủ trương, đường lối) nên nguồn sống của họ trông vào đồng lương công chức. Không ai sống bằng tiền bán tranh nên khái niệm “Họa sĩ tự do” rất phổ biến ở xã hội tư bản) là một khái niệm xa xỉ. Vì hoàn cảnh chiến tranh và bao cấp nên không có thị trường mỹ thuật. Nay thì ngược lại, khá nhiều họa sĩ sống bằng tranh, thị trường có hướng ngoại (cấp cao) và cả hướng nội (cấp thấp).

- Thời nay họa sĩ tự do vẽ điều mình thích, tự do bán tranh, miễn không phạm pháp. Có nhà nghiên cứu cho rằng vì thế nên các họa sĩ chỉ vẽ nhằm vào ý thích của “ông Tây” và Việt kiều. Chúng tôi không nhất trí như vậy vì vẫn còn đó dòng tranh chính thống vả truyền thống đủ đông để chiếm lĩnh thị phần đáng kể của mỹ thuật Việt Nam. Lại còn có tầng thấp nhất với thị trường tranh truyền thần sơn dầu, sơn mài lan tỏa trong âm thầm, vẫn có những phố tranh chép và nhái hay sáng tác ẩu dành chò khách nội hay Tây ba lô trình độ thấp và chỉ có ít tiền hoặc quan niệm nghệ thuật phải rẻ tiền (!) như ở phố Nguyễn Thái Học hay Hàng Hành, Hàng Trống (Hà Nội), khu Tây ba lô như các đường Để Thám, Bùi Viện... ở TP HCM. Tất nhiên, trong thâm tâm, các họa sĩ hay thợ vẽ ở đó cũng hiểu thế nào là nghệ thuật “rẻ tiền” nhưng vì “miếng cơm” mà họ đành làm xằng.

- Tôi nhớ ở thời bao cấp, muốn vẽ tranh khỏa thân thì chỉ có thể vẽ trong các lớp hình họa của trường Mỹ thuật (được phép). Một vài nhóm họa sĩ tự tổ chức vẽ “mẫu này” ở Hà Nội hay Nam Định đã bị công an bắt và thẩm vấn. Giờ đây, gặp lại nhau, họ đều cười, cay đắng có mà vui cũng có vì bây giờ thì chuyện này là “chuyện vặt”, miễn đừng quá lộ liễu khi vẽ.

Xưa nhiều gia đình ngăn cản con cái thi vào trường Mỹ thuật vì ở thời bao cấp, họa sĩ “chết đói đầu nước”. Cũng đôi khi, bố mẹ “nhét” con vào trường Mỹ thuật vì không thể thi vào trường nào khác do quá kém hay thậm chí dở hơi (mà dân trong nghề đùa là “Trâu Quỳ”): Nay thì đỗ chính khoa Yết Kiêu hay một số khoa của Mỹ thuật Công nghiệp, Sân khấu- Điện ảnh thật là danh giá vì đầu ra khá sáng sủa.

Các họa sĩ và nhà điêu khắc giờ đây thoải mái giao lưu với đồng nghiệp và khách mua nước ngoài vì được tự do làm triển lãm (không phải xếp hàng như thời bao cấp), đồng thời hàng năm luôn có rất nhiều cuộc thi hay các trại sáng tác tranh, tượng ở trong nước cũng như nước ngoài, chỉ sợ không có tác phẩm, không có ngoại ngữ, không biết vi tính hoặc quá e thẹn mà thôi.

Thật ra, nếu so với văn thơ, điện ảnh, sân khấu, ca nhạc thì mỹ thuật lặng lẽ nhất, ít nhạy cảm về chính trị nhất, kém tác dụng phong trào với quần chúng nhất. Nếu để ý các kỳ Đại hội của các Hội Văn nghệ thì sẽ thấy: thường thì một nửa hoặc 2/3 số ủy viên Bộ Chính tri đến dự đại hội của các nhà văn, nhà báo, sân khấu, điện ảnh... Còn Đại hội Mỹ thuật chỉ có tối đa là một ủy viên Bộ Chính trị, mà thường thì chỉ cần một ủy viên Trung ương hay Bí thư Trung ương lả đủ. Như vậy đủ thấy Mỹ thuật có lẽ đứng hạng cuối về tầm quan trọng trong chính sách văn hóa, văn nghệ của quốc gia, không đáng phải xét nét nhiều...

10/ Luận về hướng phát triển mới của nghệ thuật và thưởng thức nghệ thuật đương đại Việt Nam.

Đa số các họa sĩ lớn tuổi ngày nay chỉ hiểu đến khái niệm Hiện Đại mả hoàn toàn không hiểu khái niệm Đương Đại. Họ không thể hiểu những sáng tạo quá mới, quá kỳ quặc trong mắt họ, bởi không thể trả lời câu hỏi: Tại Sao (mà lại ra nông nỗi này) ?

Đó chính là tác động của làn sóng Toàn Cầu Hóa ào ạt không gì cưỡng nổi đang tràn tới mọi ngõ hèm trên toàn thế giới (có lẽ chỉ trừ Bắc Triều Tiên đóng cửa chặt cứng là “tránh” được mà thôi). Khi đã tiếp xúc dễ dàng với thế giới (như đã phân tích ở trên) thì kiểu gì cũng bị tác động, chịu ảnh hưởng. Theo quy luật muôn đời thì những trường phái rất mới của nghệ thuật thế giới thế nào cũng sẽ quyến rũ các đệ tử bốn phương, trong đó có Việt Nam.

- Đó cũng chính là quy luật muôn đời của nghệ thuật thực thụ: cấm đi lại con đường cũ, không diễn lại thành công cũ theo kiểu cũ mà luôn cần lạ hóa, cá biệt hóa.

- Đó là xu hướng xã hội hóa, công nghệ hóa nghệ thuật đã tạo ra những lối đi khác hẳn trước: tác phẩm chỉ hiện diện trong khoảnh khắc, không thể lưu giữ tác phẩm chỉ hoàn thiện khi có sự tham gia của khán giả, tác phẩm choán cả không gian cực kỳ rộng lớn, tác phẩm biến đổi theo thời gian, tác phẩm tạo ra ảo giác bởi âm thanh, ánh sáng, hóa chất v.v..

- Nhiều sinh viên và các họa sĩ trẻ măng đã biết tận dụng lợi thế về ngoại ngữ, vi tính, nhanh nhạy giao tiếp, nắm bắt thông tin thời sự nhà nghề cộng với bản tính thích sáng tạo cực đoan của tuổi trẻ đề đi tiên phong theo các trường phái nghệ thuật đương đại phương Tây. Thường thì các trường phái này vì quá mới, quá lạ, chưa kịp Việt hóa nên bị đa số công chúng và phái già phản ứng thậm chí bị gây khó khăn (Chuyện này chẳng có gì mới lạ vì trong “lịch sử Mỹ thuật phương Tây, buổi chào đời của các trường phái ân tượng, Dã thú, Đa đa, Siêu thực... từng bị đa số công chúng tư bản phản ứng mãnh liệt và tẩy chay khiến nhiều tên tuổi lừng danh thuở ấy đói dài, thậm chí chết xúi xó mà không một xu dính túi như Van Gogh hay Gauguin) . Tuy nhiên, việc học theo những cái “tân kỳ” dù đôi khi quá lố, quá sức, cũng chẳng có gì mới vì đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử giao lưu, vay mượn và tạo thành bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, kể cả những nền văn hóa cực kỳ vĩ đại của thế giới như Trung Quốc và ấn Độ (như chung tôi đã dẫn chứng phần trên) .

Việc hướng ngoại của các họa sĩ trẻ Việt Nam còn được thúc đẩy nhanh hơn khi họ cảm thấy con đường cũ đã chật hẹp, cách sáng tác cũ, dù tạo ra những tác phẩm trông đẹp nhưng đã nhàm, quanh đi quẩn lại chỉ có vậy. Và quan trọng nhất là con đường và cách vẽ cũ đã lỗi thời trong điều kiện mới. Như chúng tôi đã nêu ở phần số 7 bên trên, hình ảnh nước ta đang thay đồi dữ dội, làm gì còn những “cây đa, bền nước, con đò” nữa mà vẽ phong cảnh hoài cổ? làm gì còn phố cổ Hà Nội nữa để vẽ đua với “Phố Phái” lừng danh ? làm gì còn hợp tác xã nông nghiệp nữa mà vẽ nông dân dân quân cấy thẳng hàng hay gặt tập đoàn? Tranh, tượng thời Hiện thực Xã hội chủ nghĩa quả thực đã từng có những tác phẩm đẹp nhưng đó là con đường hẹp, cái đẹp phải đi kèm với cái đúng mà nay nhiều người đã chán ngấy lối tả thực thật thà như đếm. Có những thời điểm lịch sử, các họa sĩ đồng lòng chấp nhận rằng quyền lợi cá nhân kết thành một khối với quyền lợi quốc gia, nhất là khi nền độc lập của Tổ quốc đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng khi đã hòa bình và hội nhập thì mỗi người có quyền theo đuổi sở thích riêng, miễn điều đó lương thiện. Ngay cả khái niệm hiện thực trong nghệ thuật cũng không thể là hiện thực giản đơn ngoài đời. Chúng tôi còn nhớ như in cái ngày mà nhà nghiên cứu Thái Bá Vân công bố khái niệm đại ý là. Hiện thực không phải là cái ta nhìn thấy mà là cái ta tâm tưởng. Thuở ấy ông bị Phản đối dữ dội mà nay chắc chắn đa số anh em trong nghệ tán đồng vì thấy đó là lẽ hiển nhiên (chúng tôi vẫn còn lưu giữ những ý kiến chỉ trích in trên báo chí thời ấy).

Người Việt vốn có truyền thống ứng dụng mọi thành tựu ngoại nhập, miễn là họ cần. Rất nhiều thứ đã là máu thịt của toàn dân ta mà lại vốn là đồ ngoại nhập như chữ quốc ngữ, xe đạp, xe máy, xe buýt, xe tải, tàu hỏa, ti vi, bộ com lê, áo sơmi, xi líp, coócxê, xu chiêng, mũ bảo hiểm, bút bi, bút máy, bút chì, cây filao, su hào, súp lơ, xà phòng v.v.. Chỉ sau chưa đầy một thế kỷ mà họa sĩ Việt Nam đã rất quen với sơn dầu, palét, màu nước, toan, bút bẹt, dầu lanh, bay vẽ, làm bo... cho đến acrylic, composit, sơn nước, sơn Nhật v.v.. Sự thật hiển nhiên. Nhưng chỉ có các nhà sử học mới đề ý rằng đó là cả một quá trình vật vã với rất nhiều thải loại, chấp nhận, chỉnh sửa, thay thế và Việt hóa hay vui vẻ sử dụng nguyên dạng. Chúng tôi tin chắc rằng chỉ mươi năm nữa, những sắp đặt, trình diễn, video-art, grafflti, body-art, digital art... sẽ là chuyện thường ngày ở phố huyện mỹ thuật Việt Nam, thậm chí đã lỗi thời và phải nhường chỗ cho các trào lưu mới (mà thế nào cũng lại bị la ó, chê trách lúc đầu).

Vấn đề cốt tử của tác phẩm nghệ thuật vẫn là: Hay hay Dở, Sâu hay Nông, Vui hay Buồn, Đẹp hay Xấu, Mới lạ hay Nhàm chán... Các sáng tác tân kỳ dù ồn ào đến đâu đi chăng nữa cũng phải chiu sự chọn lọc của thời gian. Lịch sử sẽ phán xét các chất lượng và giá trị.

Nhưng còn một vế nữa của thưởng thức mà ta hay quên hoặc cố tình quên. Điều này, chính Các Mác, ông tổ của chủ nghĩa cộng sản đã từng nhắc nhở: “Muốn hiểu nghệ thuật, anh phải được giáo dục về mặt nghệ thuật. Tức là thưởng thức cũng cần có trình độ, nếu không, sẽ chỉ là trọc phú lắm tiền chơi tranh bờ hồ và nghe nhạc sến.

Nghệ thuật, hiểu theo nghĩa hiện đại, không phải là “thức nhắm” để nhậu, mà là tiếng lòng, tâm tư, thái độ, phản ứng hay cách chơi riêng... của nghệ sĩ. Trọng một xã hội hiện đại hóa với các công dân đã giàu lên nhiều so với năm 194 5 hay so với thời bao cấp nhưng người ngay phải sợ kẻ gian, thức ăn lẫn hóa chất độc hại, cảnh quan toàn quốc bị bê tông hóa, thi sắc đẹp cũng gian lận bằng cấp, thi giải mỹ thuật quốc gia cũng lừa hội đồng bằng chép tranh Liên Xô thì nghệ thuật đương đại không chỉ trả lời câu hỏi: Có đẹp hay không ? mà còn biểu thị nhiều thái độ, trình độ, ẩn ý phản ứng, từ chối, xa lánh... của những nghệ sĩ vừa có lương tâm vừa có nghề. Tất nhiên mọi trò chơi dù nghiêm túc nhất cũng luôn có kẻ gian, khi thì trắng trợn, lúc lươn lẹo. Có điều, ngôn ngữ nghệ thuật đương đại đòi hỏi khán giả phải nâng cao trình độ (như Các Mác mong muốn) để thưởng thức ở trình độ cao, sâu và thải loại những giá trị ảo, giả hiệu.

11/Thay lời kết: Lãnh đạo nghệ thuật và mỹ thuật cần phải nâng cao trình độ.

Chúng tôi chẳng vui gì khi thấy thỉnh thoảng Hội đồng Nghệ thuật lại bị lừa. Thôi thì đủ kiểu, nào là tranh chép Liên Xô hay áchentina, nào tranh khắc gỗ, sơn mài giả cầy, nảo tượng đài bi han gỉ hay sắp đổ, nào tranh cổ động chính trị vi phạm bản quyền nhiếp ảnh mà uỷ viên hội đồng cố cãi trong khi tác giả đã đồng ý xin lỗi công khai v.v.. Hoá ra vị trí của Hội đồng Nghệ thuật cao vời vợi mả thực chất họ tắc trách và không đủ tinh tế đến mức cần thiết.

Chúng tôi chẳng vui gì khi biết phần lớn các Giảng viên Đại học Mỹ thuật chỉ vẽ giỏi và dạy bằng cảm giác và kinh nghiệm chứ không hề đủ trình độ lý luận về chính cái bài bản mà mình đang giảng dạy (thậm chí có người còn chẳng biết lý sự gì). Như vậy chỉ có thể gọi là truyền nghề chứ không xứng danh Đại học theo nghĩa Khoa học.

Chúng tôi cũng chẳng vui gì khi biết nhiều lãnh đạo nghệ thuật và mỹ thuật chỉ thấy mặt xấu và xa lạ của Nghệ thuật Đương đại. Họ lãnh đạo bằng cảm tính chứ không phải bằng kiến thức. Đáng lẽ ở cương vị lãnh đạo, họ cần phải luôn nghiên cứu vả cập nhật một cách tích cực nhất kể cả khi trong bụng không ưa: Lãnh đạo Mỹ thuật Việt Nam trong hoàn cảnh mở cửa và toàn cầu hoá, lúc đất nước thay đối dữ dội khiến cho nghề Mỹ thuật cũng thay đổi toàn diện là loại công việc thực sự - khó chứ không dành cho những người chi muốn an nhàn, chỉ muốn ngắm nghía cái đèm đẹp, dễ hiểu cho trình độ thấp.

Xin thử đặt câu hỏi: Trong hoàn cành giao lưu quốc tế nườm nượp, đến một lúc nào đó, một vị lãnh đạo mỹ thuật cần phải bình luận trực tiếp trước các phương tiện thông tin đại chú với tư cách nhà nghề về một số tác phẩm nghệ thuật đương đại cụ thể thì sẽ ra sao ? Lảng tránh chăng ?

Hả Nội 9/ 2008.

Đức Hoà.

[ Các bài mới ]
[ Các bài đã đăng ]