E-mail        Print        Font-size  
  • ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO ĐỂ PHÁT TRIỂN (PHẦN I)

    SALVADOR DALI - Swans Reflecting Elephants. Sơn dầu trên vải toan. 51x77cm


     





    Vấn đề sản phẩm đào tạo mỹ thuật

    Khi đời sống xã hội phát triển, yêu cầu về thưởng thức một tác phẩm mỹ thuật cũng trở thành một chức năng có tính chất xã hội làm cho đời sống sáng tác được gắn bó với đời sống thưởng thức.

    Khi thưởng thức giá trị của tác phẩm mỹ thuật, người xem thường chú ý các tiêu chí giá trị: ý tưởng tác phẩm, ngôn ngữ nghệ thuật, bản sắc văn hóa, thời đại lịch sử, tư duy triết hoc, vấn đề xã hội, tri thức tiềm ẩn ... Những tác phẩm nghệ thuật có giá trị bao giờ cũng bị các vấn đề triết, mỹ, tâm lý của thời đại chi phối.

    Để đáp ứng nhu cầu người thưởng thức mỹ thuật, những người sáng tác mỹ thuật cũng phải chuyên nghiệp. Để có sản phẩm đào tạo mỹ thuật có chất lượng kéo theo cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo mỹ thuật phải được đầu tư, nội dung chương trình đào tạo phải phù hợp, đội ngũ giáo viên phải có nhiều cơ hội thể hiện tài năng, hệ thống quản lý liên tục hoàn thiện.

    Cơ sở lý luận

    Triết học thế kỷ XX quan tâm đến những vấn đề của con người, những vấn đề nội tâm và cho rằng con người cần phải nhận thức thế giới theo cảm xúc, tâm trạng cá nhân của mình có ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật hiện đại của các nước phương Tây, dành mọi ưu tiên cho việc nghiên cứu con người. Để đạt đến hiện sinh chân chính phải dựa vào trực giác của con người, chỉ có trong cuộc sống khổ đau, cô đơn, tuyệt vọng, sợ hãi... con người mới có thể trực tiếp cảm nhận sự tồn tại của mình.

    Triết học đời sống của Henri Bergson (1859 -1941) cho rằng, con người có thể khám phá ra ở ngay chính mình, thông qua trực giác. Đó là sự giao cảm mà con người đặt vào bên trong của đối tượng. Trực giác không đến với ta một cách rõ ràng, nó là làn chớp chiếu vào thực tại, nó chỉ đến trong những thời gian thích hợp và xảy ra trong chốc lát: khắc đến khắc đi. Trực giác đi theo cùng chiều với đời sống, cho ta thấy một thực tại đầy mâu thuẫn. Động lực để con người vượt lên chính là tự do. Trực giác nghệ thuật hướng tới tự do sáng tạo của cá nhân, khơi dậy năng lực phản kháng, bạo loạn, trong đời sống cụ thể.

    Thuyết hiện tượng luận được quảng bá rộng rãi ở Đức đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng đến việc hình thành chủ nghĩa biểu hiện (Expressionism). Phương pháp của thuyết hiện tượng luận đưa lên hàng đầu trực giác trí tuệ như là một phương pháp nhận thức thích hợp hơn cả, nhất là trong sáng tác mỹ thuật. Các hoạ sĩ phái biểu hiện chủ nghĩa đã nhìn thấy sứ mệnh của mình là thể hiện lên tấm vải vẽ không phải thế giới bên ngoài mà là thái độ của mình với thế giới đó.

    Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), lần thứ hai (1939-1945) đã làm cho châu Âu rung chuyển. Hậu quả của nó làm cho mặt đất của hành tinh chúng ta nhuốm đầy máu và phần lớn những giá trị của chúng ta bị huỷ hoại. Các nghệ sĩ tạo hình xa rời cái cụ thể và hướng tới cái trừu tượng đã trở thành một khuynh hướng phổ biến.

    Chủ nghĩa hình thức trong sáng tác mỹ thuật thế kỷ XX về tổng thể có quan hệ chặt chẽ và sâu sắc với triết học và tâm lý học thế kỷ XX. Sáng tạo mỹ thuật cũng là một phương pháp nhận thức thế giới, đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành nền móng tư tưởng. Các tác phẩm mỹ thuật hình thức chủ nghĩa là thái độ đối với thời đại, mang trong mình tâm lý cá nhân và thế giới quan của nghệ sĩ. Chỉ có người nghệ sĩ mới thể hiện được trong tác phẩm của mình bản chất của tư tưởng và chỉ có tác phẩm mỹ thuật mới có khả năng trả lời câu hỏi cuộc sống là gì ? Do tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới, trong mỹ thuật thế kỷ XX đã lần lượt nảy sinh một số chủ nghiã, trường phái, chối bỏ nguyên tắc phản ánh cuộc sống hiện thực.



    HENRI MATISSE - Le bonheur de vivre


     

    Chủ nghĩa Dã thú (Fauvisme) đã chọn màu sắc hoang dã mang tính trang trí sáng rực rỡ, âm vang, bất ngờ. Chính Henri Matisse (1869-1954) đã nói: nghệ thuật của ông mang đến cho con người niềm hoan lạc trong những màu sắc rực rỡ. Sức sống của nó chỉ kéo dài 3 năm

    Những người theo chủ nghĩa lập thể (Cubisme) 1907 đã tuyên bố họ là người sáng tạo ra một hiện thực mới, hiện thực được biết chứ không phải hiện tượng được thấy. Họ cự tuyệt cách vẽ phối cảnh truyền thống và trong sáng tạo của mình, họ cố thể hiện ấn tượng cuộc sống bằng bố cục hình học, những người theo chủ nghĩa lập thể đã làm thay đổi chính đối tượng thể hiện. Chủ nghĩa lập thể đã chứng minh khả năng hội hoạ biểu hình, cũng chỉ đến 1914 bị phá sản

    Cách phản ánh của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme) là đồng nhất với con người hiện đại đang bị niềm khát khao sống mù quáng và dữ dội ám ảnh, sự khủng khiếp và ghê rợn hành hạ, không còn biết đến lòng nhân từ và hy vọng. Nghệ thuật siêu thực dựa trên cơ sở cự tuyệt trí tuệ và logíc truyền thống, niềm tin vào hiện thực cao siêu, tin vào sức mạnh phi thường của mộng tưởng và chiêm bao, tin vào trò chơi tự do của ý tưởng. Trong các bức tranh của chủ nghĩa siêu thực, một thế giới được cách điệu một cách méo mó của những giấc mơ khủng khiếp, những bóng ma cuồng dại và những ảo giác hiện ra trước mắt. Các nhà siêu thực coi sáng tạo nghệ thuật như là một nơi ẩn nấp của con người đang thấy kinh tởm đời sống hiện thực. Các bức tranh của các tác giả siêu thực là hiện thân của sự phi lý và bi kịch của thế giới chúng ta. Họ quả quyết thế giới siêu thực là mảnh đất chủ yếu của nghệ sĩ, là nơi cần tìm kiếm, khám phá muôn vàn điều thiêng liêng, bí ẩn. Phong cách tự phát trong nét bút Joan Miró (1893-1983) cũng như kỹ thuật mài tranh của Max Ernst (1891-1976) ... đã hấp dẫn những hoạ sĩ siêu thực. Về mặt triết học, chủ nghĩa siêu thực dựa vào lòng tin một thực tế thượng đẳng dưới nhiều biểu hiện mà người ta thường coi nhẹ, vào sức mạnh tuyệt đối của các giấc mơ, vào sự vận động tự do của tư duy.

    Các chủ nghĩa dã thú (1905), biểu hiện (1905), lập thể (1907)... có những nguyên tắc nghệ thuật mới đã dẫn tới việc hoàn toàn khước từ nghệ thuật vật thể tạo cơ sở cho loại hình nghệ thuật phi vật thể ra đời. Năm 1910, tại Muyních, hoạ sĩ gốc Nga Wassily Kandinsky (1866-1944) đã vẽ bức tranh trừu tượng đầu tiên, trong đó không có vật thể, không có một sự ám chỉ vật chất và hiện tượng. Bức tranh tác động đến người xem bằng sự kết hợp của ngôn ngữ đường nét, màu sắc truyền đạt những cảm xúc tâm hồn và những cảm nhận của hoạ sĩ như có sự rung động nào đó. Kandinsky là nhà lý luận đầu tiên của chủ nghĩa trừu tượng đã chứng minh được hình thức là phương tiện thể hiện "âm hưởng bên trong", nó được sinh ra từ "sự tất yếu nội tại" và như vậy mỹ thuật có đóng góp đa dạng của hình thức thể hiện các hình thái khác nhau của thế giới tinh thần, những khát vọng nội tâm khác nhau của mỗi hoạ sĩ. Sự thăng hoa của chủ nghĩa trừu tượng gắn liền với nhiều hoạ sĩ tên tuổi và cho đến ngày nay vẫn chưa chấm dứt. Điều này có lẽ nó thể hiện được tư tưởng tự do - tư tưởng của triết học thời đại, tự do ngôn luận, tự do tìm tòi sáng tạo, tự do tạo dựng phong cách riêng, tự do thích mất cân đối hơn là hài hoà, tự do giữ nguyên tắc hoặc cự tuyệt nguyên tắc. Bản thân mỗi người sáng tác mỹ thuật tự khám phá bí quyết tự do cho mình, khai mở khả năng sáng tạo của mình

    Phải thừa nhận mỹ thuật thế kỷ XX là phức tạp và có vấn đề vì nó xuất hiện trong thời đại có nhiều vấn đề cần giải quyết từ những cuộc sống cá nhân khác nhau. Mỹ thuật hình thức chủ nghĩa thời đại chiến thế giới thể hiện về một thân phận con người bị thế giới bỏ rơi, thể hiện được cuộc sống của loài người trong xã hội tư bản. Cái mà một người bình thường cảm nhận một cách hời hợt và mơ hồ thì nhiều hoạ sĩ lại nhận thức và rung động mạnh mẽ và bệnh hoạn. Tâm trạng bi quan kiểu hư vô chủ nghĩa trở thành một hiện tượng phổ biến ở các nước tư bản phương Tây. Trong cái bề bộn của các trường phái mỹ thuật, một đồ vật hết đát sử dụng có thể trở thành đối tượng của nghệ thuật, do đó thường nảy sinh câu hỏi về ý nghĩa của các tác phẩm nghệ thuật. Các nhà sáng tác mỹ thuật có xu hướng từ bỏ con đường mòn và bước vào những cái chưa bao giờ nếm trải. Mãi mãi sẽ là như vậy, bản tính của loài người cũng như vậy, đó là quy luật nội tại của tiến trình sáng tạo.

    Vấn đề đổi mới đặt ra cho cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật hiện nay

    Theo đà của thời gian, mỹ thuật của thời hội nhập phải nối tiếp thế kỷ XX. Thế kỷ XXI, thế kỷ của thông tin, của văn minh, của dân chủ sẽ dẫn tới một nền mỹ thuật mà mỗi tác phẩm có tính chuyên nghiệp cao, được phân hoá rõ ràng, chứa đựng rất nhiều thông điệp mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm. Ít nhất chúng ta cũng phải xác định được các yếu tố làm nên giá trị tác phẩm mỹ thuật có liên quan đến con người, xã hội, chính trị, cơ chế quản lý, đời sống văn hoá, các quan niệm triết mỹ, tâm lý, nhân sinh, khoa học ... của thời hội nhập trong thế kỷ XXI này.

    Một điều chúng ta cũng ý thức được là trong thời hội nhập, không chỉ người sáng tác hiểu được tác phẩm mỹ thuật mà nhân dân cũng hiểu được tác phẩm mỹ thuật do đời sống dân trí cao hơn và như vậy sẽ không có tình trạng người dân mù tịt đứng trước tác phẩm mỹ thuật như đã diễn ra trong thế kỷ XX. Trong đời sống tinh thần của mình, mỗi người dân sẽ tự chọn món ăn tinh thần cho mình, tự chọn cho mình tác phẩm làm đẹp không gian sống. Điều đó sẽ tạo một sức ép cho cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật phải tạo ra sản phẩm đào tạo làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nghệ thuật của tư duy thẩm mỹ thời hội nhập. Có nghĩa là tạo ra người sáng tác thông minh, có kiến thức cao, sâu về các mặt của đời sống xung quanh, có kỹ thuật chất liệu chuyên nghiệp. Có như vậy, người thưởng thức tác phẩm mới khâm phục sáng tác của người sáng tạo, chịu thưởng thức tác phẩm, không quay lưng lại tác phẩm, dành nhiều thời gian thưởng thức, tìm hiểu giá trị của tác phẩm. Chỉ có như vậy, tác phẩm mỹ thuật mới đi vào cuộc sống, tồn tại.

    Đã đến lúc thế kỷ XXI đòi hỏi một tư duy nghệ thuật mới và điều này nó phải được manh nha từ các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật, nơi tập trung các thầy dạy, các nhà nghiên cứu mỹ thuật. Các vấn đề nghệ thuật đương đại cần được nghiên cứu nghiêm túc. Người sáng tác mỹ thuật không nên đánh đố những người thưởng thức mỹ thuật. Đã đến lúc cái đẹp cũng cần minh bạch như cuộc thi hoa hậu, thí sinh rất xinh đấy nhưng phải trả lời tốt các câu hỏi một cách thông minh, có trí tuệ. Các tác phẩm thế kỷ XXI cũng cần phải rất đẹp về tạo hình và đằng sau đó phải tiềm ẩn nhiều kiến thức làm hấp dẫn con người của thế kỷ XXI. Không làm được điều đó, con người của thế kỷ XXI, con người của xã hội thông tin, con người của khoa học công nghệ sẽ bị dị ứng trước các tác phẩm mỹ thuật đương đại.

    Thế kỷ XX trở về trước, tư tưởng chi phối con người thành một thứ để tôn thờ. Cho nên tư tưởng đó không còn thích hợp trong thời đại hiện nay thì chúng ta nên nhìn nhận nó như một giá trị lịch sử với những đóng góp mang tính lịch sử nhường chỗ cho sự tìm kiếm giá trị mới mà cuộc sống đang đòi hỏi. Người sáng tác mỹ thuật phải rất thận trọng khi sử dụng những phong cách đã được sinh ra trong những thế kỷ trước trong các sáng tác của mình nếu không muốn bị hủy hoại.

    Thế giới hội nhập đòi hỏi mỗi con người phải có tư duy độc lập, buộc phải không ngừng vận động để thích nghi với hoàn cảnh. Ý thức được điều này, chúng ta cũng hình dung được mỹ thuật thời hội nhập cần gì (?) Đó là trí tuệ cá nhân trên nền của sự rèn luyện năng khiếu mỹ thuật. Đó cũng là cơ hội cho các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật bộc lộ tính chuyên nghiệp của mình. Thiếu sót lớn nhất của chúng ta là đã không đánh giá đúng vai trò của các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật và đầu tư không thỏa đáng, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo sinh viên mỹ thuật. Tất cả đã lạc hậu nhiều chục năm mà không đòi hỏi đổi mới. Tác phẩm tranh, tượng tốt nghiệp không được giới sưu tầm mỹ thuật quan tâm. Nền mỹ thuật Việt Nam có phát triển hay không phụ thuộc vào chất lượng đào tạo trong các cơ sở đào tạo đại học mỹ thuật. Đào tạo năng khiếu mỹ thuật chính là cấp vốn nghề cho sinh viên mỹ thuật bước vào cuộc sống sáng tác chuyên nghiệp. Vốn ít thì đừng hy vọng gì ở nền mỹ thuật trong tương lai. Những tổ chức như Hội mỹ thuật Việt Nam, chi hội mỹ thuật địa phương, các tổ chức xã hội như New Space Arts Foundation - 15 Lê Lợi- Huế, Trung tâm mỹ thuật Đương Đại. 17, Thành Công, Phường Thành Công, Quận Ba Đình, Hà Nội … chỉ là phần ngọn của vấn đề sáng tác mỹ thuật. Phần gốc có được chăm bón, có sự đổi mới thường xuyên, phần ngọn mới phát triển lên được. (Hết phần 1)


    Lê Đình Thuận

Share:         LinkHay.com