 |
| lớp học ngoài trời |
Năm 2010 cùng với niềm vui chung của toàn dân chào mừng Đại lễ của dân tộc 1000 năm Thăng Long – Hà nội, các thế hệ thày trò trường đại học Mỹ thuật Việt Nam còn có một niềm vui riêng – kỷ niệm 85 năm ngày thành lập trường: 1925 -2010.
Điều thú vị chính là sự ưu ái của lịch sử giành cho đào tạo
– sáng tạo mỹ thuật Thủ đô vì trường được đặt trên mảnh đất Thăng Long- Hà Nội
nghìn năm văn hiến
Mùa thu năm 1925 khai giảng khóa học đầu tiên với 3 chuyên
ngành: hội họa, điêu khắc và kiến trúc của Trường Mỹ thuật Đông Dương –
Ecole Superieure des Beaux - Arts de
L’Indochine do toàn quyền Đông Dương Merlin ký ngày 27 tháng 10 năm 1924 được
coi như một mốc son của lịch sử Mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Cái duyên mà lịch sử trao cho các thế hệ thầy trò được trực
tiếp sống, lao động nghệ thuật trên “cái nôi” một di sản văn hóa – tạo hình –
thẩm mĩ đặc sắc độc đáo của một dân tộc anh hùng có 4.000 năm lịch sử.
Quyết không phải là một sự ngẫu nhiên thường tình. Ngay từ
những năm đầu thế kỷ 20 các học giả người Pháp đã khẳng định: “Mỹ thuật An Nam
là một trong nhiều ứng dụng nghệ thuật trang trí”, “Nghệ thuật của họ không có
gì chung đụng vói người Tàu, người Nhật “, “ Hãy tạo điều kiện cho từng người,
từng nhóm người đi vào đền chùa cung điện của họ”. Họ sẽ tìm thấy những mẫu,
những kiểu thức đẹp nhất của An Nam”, “ Không nên ép họ phải theo những kích
thước, mẫu mực lấy trong vựng tập viện bảo tàng Louvre”. Đó chính là cái nội
lực giầu có của mỹ thuật dân tộc Việt Nam. Một dân tộc giầu óc thẩm mỹ và
tiềm năng sáng tạo nghệ thuật.
Họa sĩ Victor Tardieu, người sáng lập trường mỹ thuật Đông
Dương còn khẳng định quan điểm đào tạo “ người An Nam hoàn toàn đầy đủ năng
khiếu trở thành nghệ sĩ thực thụ”. Một cái duyên nữa không thể không nói, ngay
từ buổi đầu mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã trực tiếp, tiếp cận nền văn minh, văn
hóa tạo hình Pháp – một trong số ít nền mỹ thuật rực rỡ nhất có ảnh hưởng đến
mỹ thuật thế giới.
Đây là sự gặp gỡ kỳ thú của tinh hoa mỹ thuật truyền thống
Việt Nam phương Đông và tinh hoa mỹ thuật phương Tây
khoa học hiện đại. Truyền thống và tinh hoa đó đã thực sự làm nên lịch sử mỹ
thuật hiện đại Việt Nam.
Nhớ lại 85 năm lịch sử Nhà trường tồn tại và phát triển
trong lòng dân tộc, gắn bó mật thiết với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đặc
biệt trong từng thời kỳ lịch sử đều có những hình thức, phương thức đào tạo kịp
thời đáp ứng nhu cầu của đời sống mỹ thuật.
+ 1925 -1945 Trường Mỹ thuật Đông Dương với lòng yêu nghề ,
yêu nghệ thuật dân tộc các thế hệ sinh viên được đào tạo dưới thời thuộc Pháp
sớm đặt nền móng cho Mỹ thuật hiện đại Việt Nam giầu bản sắc dân tộc. Một thế
hệ tác giả đầu tiên, định hình định vị một phong cách nghệ thuật hiện thực và
lãng mạng giầu phẩm chất dân tộc và hiện đại. có nhiều ảnh hưởng đến nhiều thế
hệ tác giả. Một đội ngũ thầy đầu tiên của lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
+ Ngay sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ngày 8/10/1945 Bộ
trưởng Bộ giáo dục Quốc gia Vũ Đình Hòe ra quyết định thành lập Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Việt Nam đã tuyển sinh song vì chiến tranh không học được.
Trong kháng chiến chống Pháp ngày 28/12/1950 Bộ trưởng Bộ
giáo dục Quốc gia Nguyễn Văn Huyên ra quyết định thành lập Trường Trung Cấp Mỹ
thuật còn có tên gọi thân quen Trường mỹ thuật Kháng chiến. Với phương thức vừa
học vừa phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
+Ngày 20 tháng 01 năm 1957, Phó thủ tướng Phan Kế Toại đã ký
Quyết định thành lập Trường Cao đẳng mỹ thuật Việt Nam cùng với hệ trung cấp 2,
3 năm và hệ đào tạo Đại học chính quy 5 năm . Đây là sự mở đầu của đào tạo Đại
học dưới chính quyền cách mạng.
+ Năm 1960 mở hệ sơ trung 7 năm, một tầm nhìn một chiến lược
đào tạo bài bản có hệ thống ngay từ khi tuổi còn nhỏ. Khóa đầu một số em còn
được học tiếp Đại học 5 năm . Những khóa sau các em hội đủ khả năng thi vào đại
học, 12 năm ngồi trên ghế nhà trường được trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ
năng có hệ thống, những sinh viên sau này trở thành những họa sỹ quyen biết,
những nhà quản lý , những nhà giáo của nhiều trường đại học Mỹ thuật, Văn hóa
nghệ thuật. Năm 2010 khóa 1 hệ sơ trung 7 năm tròn 50 năm thành lập Hệ.
+ Năm 1965 ngay trong kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất của
dân tộc tại làng Vát huyện Hiệp hòa Tỉnh Bắc Giang khai giảng khóa học Đại học
Tại chức đầu tiên và mở nhiều lớp ngắn hạn cho từng chuyên ngành đã thực sự đáp
ứng nhu cầu cán bộ mỹ thuật cho nhiều lĩch vực của dời sống mỹ thuật
+ Năm 1978 Khoa lý luận về lịch sử mỹ thuật được thành lập.
Hoàn thiện một quy trình đào tạo: giảng dạy- nghiên cứu – sáng tác. Khoa lý
luận về lịch sử Mỹ thuật không chỉ lo đào tạo các thế hệ sinh viên lý luận và
lịch sử mỹ thuật mà còn có trách nhiệm
trang bị kiến thức văn hóa tạo hình cho các khoa trong toàn trường. Nâng cao
chất lượng đào tạo lý luận và lịch sử mỹ thuật. Công tác giảng dạy – nghiên cứu
– sáng tác của thày và trò đồng bộ hơn, hiệu quả hơn.
+ Ngày 20/9/1981 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định đổi
tên trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam thành trường Đại Học Mỹ thuật
Hà Nội
+ Năm 1997 Đào tạo Cao học trước hết là chuẩn hóa đội ngũ
giảng viên của trường đều đã có học vị thạc sĩ mỹ thuật góp phần chuẩn hóa cho
nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước, nâng cao chất lượng đào tạo đại
học.
+ Năm 1998 mở khoa Đại học sư phạm Mỹ thuật góp phần không
nhỏ cho sự nghiệp đào tạo mĩ thuật ở các trường trung học phổ thông.
+ Còn một hình thức đào tạo từ xa – liên kết với nhiều
trường ở các địa phương như: Thanh Hóa, Thái Nguyên , Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải
Dương, Yên Bái, Nghệ An, Hòa Bình…. mở các lớp Đại học vừa học vừa làm góp phần
phổ cập và nâng cao mỹ thuật ở vùng sâu, vùng xa, không quản ngại khó khăn vất
vả, lãnh đạo nhà trường và không ít giảng viên đã trực tiếp giảng dạy và chấm
thi tốt nghiệp. Một hình thức đào tạo phổ cập có hiệu quả.
Vận dụng một cách sáng tạo và kịp thời các hình thức – loại
hình đào tạo thiết thực phục vụ yêu cầu mỹ thuật của đời sống xã hội trong từng
thời kỳ lịch sử. Góp phần không nhỏ nâng cao và phổ cập dân trí mĩ thuật. Một
sứ mệnh lịch sử cao cả của Trường Đại học mỹ thuật Việt Nam.
Năm 2008 trường chính thức mang tên Trường đại học Mỹ thuật
Việt Nam đã đặt đúng vị trí
vốn có của nó trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Đó chính là “cái nôi đào tạo
gốc”. Trường đã đào tạo được nhiều thế hệ họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà nghiên cứu
– phê bình mỹ thuật tên tuổi và quen
biết làm dạng danh mỹ thuật nước nhà.
Nhìn lại lịch sử mỹ thuật thế giới và Việt Nam. ở bất kỳ quốc gia nào mỹ thuật
thủ đô đều có tác giả - tác phẩm tiêu biểu cho dân tộc. Nói tới lịch sử Mỹ
thuật thủ đô Thăng Long – Hà Nội. Nói rộng ra là Mỹ thuật hiện đại Việt Nam không thể không nói tới Trường Đại học Mỹ thuật
Việt Nam
. Vị thế tất yếu của trường Đại học Mỹ thuật cấp Quốc gia đã được khẳng định
trong quá trình lịch sử mĩ thuật hiện đại Việt Nam.
Một quan điểm đào tạo chính thống xuyên suốt quá trình trong
85 năm qua của trường Đại học Mỹ thuật
Việt Nam.
Nhà trường luôn nằm trong “cái nôi” của dân tộc nhà trường luôn gắn bó mật
thiết với đời sống của dân tộc. “Học đi đôi với hành” không chỉ lo nâng cao
chất lượng trang bị kiến thức kỹ năng cơ bản tại trường, mà còn lo nâng cao
chất lượng của những chuyến đi thực tập, thực tế của thày và trò hàng năm. Tùy
theo từng thời kỳ lịch sử đều có những hình thức và nội dung đi thực tập thực
tế khác nhau.
Truyền thống đi thực tập, thực tế của thầy và trò vẫn được
phát huy cho đến ngày hôm nay, không ít tác phẩm đẹp đi vào lịch sử mĩ thuật
hiện đại Việt Nam
là kết quả của những chuyến đi thực tế, thực tập của thày và trò.
Cái mới cái đẹp trong sáng tạo và đào tạo mỹ thuật đều bắt
nguồn từ truyền thống và tinh hoa nghệ thuật. Đó là một quy luật muôn đời của nghệ thuật.
Từ khi thành lập Khoa lý luận và lịch sử Mỹ thuật. Nhất là
từ khi Viện nghiên cứu mỹ thuật trực thuộc Trường Đại học mỹ thuật đã tổ chức
được nhiều hội thảo khoa học như: “Mối quan hệ giữa học cơ bản với sáng tạo, mỹ
thuật hiện đại Việt Nam thế kỷ 20, Sơn mài Việt Nam, đồ họa ứng dụng”… các công
trình nghiên cứu, tham luận, tiểu luận
đều được in thành sách, nội san nội bộ trước đầy và tạp chí nghiên cứu của
Trường hôm nay. Việc này nâng cao một bước công tác nghiên cứu, song còn chưa
đáp ứng được mong mỏi của giới mỹ thuật sớm trở thành một trung tâm nghiên cứu
mỹ thuật lớn của cả nước. Đã đến lúc cần một chiến lược nghiên cứu phục vụ cho
đào tạo và sáng tạo mỹ thuật tương xứng với một Trường đại học Mỹ thuật Quốc
gia.
Có điều là buồn thay cho đến hôm nay chúng ta chưa có một
giáo trình chính thống về lịch sử mĩ thuật Việt Nam và lịch sử mỹ thuật thế giới
theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Nhà nước còn mạnh ai nấy dậy? Không
phải ai cũng dạy tốt truyền thống và tinh hoa mỹ thuật đòi hỏi trước hết sớm
hoàn thành 2 giáo trình này? Còn nhiều giáo trình chuyên ngành khác chưa xứng
tầm với
một trường đại học mỹ thuật Quốc gia.
Sống trong thời đại bùng nổ thông tin, hoạt động đối ngoại
của nhà trường được mở rộng. Nếu như trước đây chỉ trao đổi hợp tác với các
nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa.Từ khi đất nước đổi mới mở cửa nhà trường đã mở
rộng quan hệ hợp tác với các trường mỹ thuật trong khu vực và thế giới: trao
đổi sinh viên, giảng viên, triển lãm với Pháp, Đức, úc, Mỹ Thụy điển Phần Lan,
Thái Lan, Lào, Trung Quốc….đã thực sự mở rộng quan niệm , quan điểm đào tạo của
chúng ta, có điều không phải thầy trò nào cũng hội đủ nội lực để tiếp nhận
thông tin, nhiều khi còn thiếu đói thông tin nhất là bị nhiễu thông tin khó cho đào tạo và sáng tạo mỹ thuật. Một vấn
đề sống còn của nhà trường phải biết “biến quá trình đào tạo trở thành quá
trình tự đào tạo cho cả thầy lẫn trò”. Đó cũng là một quy luật muôn đời của đào
tạo và sáng tạo mỹ thuật.
Đào tạo phải đi đôi với sáng tác và công bố tác phẩm. Các
tác phẩm đẹp của thày và trò là một minh chứng hùng hồn cho chất lượng đào tạo
tiêu biểu 18 tác giả được giải thưởng Hồ Chí Minh, và 42 tác giả trên 49 tác
giả được giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật có nguồn gốc đào tạo tại
Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam.
Tất nhiên còn nhiều thế hệ tác giả quen biết đã nhận được
giải thưởng chính thức trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc như triển lãm mỹ
thuật toàn quốc về đề tài lực lượng vũ trang chiến tranh cách mạng, triển lãm
mỹ thuật khu vực và giải thưởng hàng năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam, giải thưởng
mỹ thuật Quốc tế. Các tác giả được giải thưởng chính thức đa phần có nguồn gốc
đào tạo tại trường đại học mỹ thuật Việt Nam.
Làm thày ở một trường đại học mỹ thuật Quốc gia. Phải
sớm trở thành những tác giả quen biết
trong giới mỹ thuật Việt Nam.
Làm thày mà không thường xuyên sáng tác
– công bố tác phẩm và có được tác phẩm đẹp mới có sức thuyết phục sinh viên. Có
điều không phải thầy nào cũng được giới mỹ thuật biết đến. Đó chính là môi
trường nghệ thuật tốt làm bệ phóng cho giảng dạy và sáng tác của đội ngũ thầy
chúng ta.
Điều tôi muốn khẳng định
nếu như nước pháp đã có một école de Paris một phong cách nghệ thuật có nhiều ảnh
hưởng đến mĩ thuật thế giới.
Việt Nam
chúng ta đã và đang có một école de Hanoi. Một phong cách sáng tác có nhiều ảnh
hưởng đến các thế hệ tác giả trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Suy cho
cùng phong cách nghệ thuật chính là “cuộc đời của mỗi một tác giả”, chẳng phải
“ văn là người” “Họa cũng là người đó sao?” Còn école de Hanoi. Một phong cách nghệ thuật bắt nguồn từ
“ cái nôi đào tạo” trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, với vốn sống, vốn hiểu
biết, vốn nghệ thuật của một môi trường nghệ thuật trên mảnh đất Thăng Long –
Hà Nội. Đó chính là cái gốc cộng với tài năng tạo nên một école de Hanoi.
Nhìn lại quá trình lịch sử 85 năm thành lập Trường Đại học
Mỹ thuật Việt Nam école de Hanoi đã định hình định vị 3 phong cách nghệ thuật:
- Phong cách nghệ thuật hiện thực lãng mạn;
- Phong cách nghệ thuật hiện thực Cách mạng giàu chất thơ;
- Phong cách nghệ thuật hiện thực tâm trạng thuộc kênh tạo
hình của thế giới hiện đại.
Sự đa dạng về phong cách của từng thời kỳ lịch sử vẫn nhất
quán và làm phong phú một école de Hanoi.
Chiếm địa vị chủ đạo trong sáng tác và thể hiện sống động trong lịch sử Mỹ thuật
hiện đại Việt Nam.
Tất nhiên cái mới cái đẹp trong sáng tạo luôn ở phía trước
chúng ta. Đòi hỏi Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam không ngừng nâng cao chất lượng
đào tạo cho tương xứng với một Trường Đại học Mỹ thuật Quốc gia.
LÊ QUỐC BẢO
|