Lượt truy cập: 373339
In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Tư, 17/09/2008-9:38 AM)
CHÚNG TÔI ĐI VẼ Ở CHIẾN TRƯỜNG KHU 5
Các họa sĩ khu 5 ở Trà My, Quảng Nam-ảnh chụp năm 1972. Hàng trên: Nguyễn Thế Vinh, Triệu Khắc Lễ, Trần Trung Chính, Lê Khắc Cường, Trần Anh Tuấn. Hàn
Tháng 10/1969, tốt nghiệp Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội. Tôi được Bộ Văn hóa cho vào chiến trường B1 ở Khu 5. Sau một thời gian luyện tập ở Hòa Bình, mùa đông năm đó, chúng tôi lên đường! Ngày ấy chiến tranh đang ở thời kỳ vô cùng ác liệt. Cũng như các trường Đại học, Trung cấp trong cả nước, hàng năm Trường Mỹ Thuật đều gửi các họa sĩ đi vào chiến trường miền Nam để thâm nhập thực tế, lấy tài liệu sáng tác.

Anh Lý Châu Hoàn học Khoa Điêu khắc. Anh vào Khu 5 từ năm 1964 và làm việc ở Báo Cờ Giải phóng. Họa sĩ Nguyễn Thế Vinh quê ở Quảng Ngãi, anh tốt nghiệp khoa sơn mài. Năm 1966, anh trở lại chiến trường và công tác ở Tiểu Ban Văn Nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Khu 5. Cùng đi chuyến này có họa sĩ Xu-man, họa sĩ Hồ Thu, họa sĩ Phạm Dân, họa sĩ Ngô Văn Riễn. Anh Xu-man vào thẳng Ban Tuyên Huấn tỉnh Kôn Tum. Hồ Thu và Phạm Dân về Quảng Ngãi, Ngô Văn Riễn đi lên Gia Lai. Anh Vinh và anh Xu-man đã đi thực tế ở nhiều địa phương trong vùng Giải Phóng. Các anh đã ghi chép được khá nhiều ký họa đẹp về cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên, về hình ảnh các anh du kích, các chiến sĩ quân giải phóng ở chiến trường khu 5.

Tháng 11 năm 1967, Trường Mỹ Thuật lại gửi hai họa sĩ Trần Hữu Chất (Hồng Chinh Hiền), Trần Thăng Giai (Trần Việt Sơn) vào bổ sung cho lực lượng Mỹ thuật khu 5. Trường Mỹ thuật Công Nghiệp cũng cử nhà điêu khắc Phạm Hồng và họa sĩ Thúc Hãnh vào chiến trường. Anh Phạm Hồng vào công tác ở Ban Tuyên huấn Khu 5. Một thời gian sau anh được cử về làm việc ở Ban Tuyên Huấn Tỉnh Quảng Nam. Anh Thúc Hãnh (Đức Hạnh) thì về thẳng Ban Tuyên Huấn tỉnh Quảng Đà. Ngoài sáng tác mỹ thuật, họa sĩ Hồng Chinh Hiền còn là một nhà thơ tài hoa. Tập thơ “Đá trắng” anh sáng tác trong thời gian này. Họa sĩ Hồng Chinh Hiền ở khu V chừng hơn một năm thì anh được trở lại miền Bắc vì sức khoẻ anh rất kém. Tới cuối năm 1968, họa sĩ Hà Xuân Phong và họa sĩ Trần Hoàng Sơn vừa tốt nghiệp khoa Lụa cũng được cử vào làm văn nghệ khu V. Anh Hà Xuân Phong ở Tiểu Ban Văn Nghệ Giải phóng, anh Trần Hoàng Sơn sang quân khu làm họa sĩ Quân đội.

Lúc đó, tiểu ban Văn Nghệ đang đóng ở gần nước Bui thuộc huyện Nam Trà. Chia tay anh chị em cùng đoàn ở trạm giao liên đầu mối Quảng Nam, tôi và một số anh chị em ở lại khu 5. Một số khác đi lĩnh lương khô, gạo, mắm bổ sung rồi tiếp tục lên đường. Kẻ vào khu 6, người đi Nam bộ, Tây nguyên. Nằm chờ ở Trạm giao liên hai ngày thì tôi được anh Thông, quản lý tiểu ban Văn nghệ đón tôi về cơ quan. Nhà thơ Vương Linh (Hải Lê) phụ trách tiểu ban, các anh Dương Hương Ly, Chu Cẩm Phong, Cao Duy Thảo, các đạo diễn múa Thanh Phước, Hiền Minh, Vũ Phương Anh, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, ca sĩ Thanh Đính... đón tôi rất thân tình. Gần tối thì họa sĩ Hà Xuân Phong từ rẫy về, trên vai cõng một gùi củi nặng. Hồi đó cả khu 5 đói to. Tiểu ban Văn Nghệ toàn là người “làm văn làm nghệ” lại là nơi đói nhất! Chúng tôi phải ăn củ móng ngựa, ruột cây dớn, các loại rau tàu bay, môn thục , môn dóc, lá tai voi... Lâu lâu có được vài lon “gạo bọc thép”. Loại gạo này được trữ ở kho rất lâu. Chúng tôi phải nấu rất kỹ thì mới ăn được. Đôi khi cũng có được dăm ba củ sắn do cô Tam cấp dưỡng và cô Chi y tá đi mót được ở rẫy đồng bào dân tộc thì đã là quí lắm rồi.

ở nước Bui chừng hai tháng, cơ quan lại phải di chuyển về vùng Nước Nghêu thuộc xã Poa cũng nằm trong huyện Nam Trà.

Tới năm 1971 thì họa sĩ Nguyễn Xuân An được bổ sung vào làm việc ở tiểu ban Tuyên truyền. An ở chiến trường khoảng gần một năm thì hy sinh. Em mất ở Dốc Voi, vào giữa năm 1972 trong một cơn sốt rét rừng ác tính. (Năm 1998, gia đình cũng đã đưa em về Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Nội ở thị trấn Văn Điển). Tới năm 1972 thì tiểu ban Văn nghệ đổi tên thành Hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ. Thời gian này Hội Văn Nghệ đóng ở vùng Dốc Voi. Giữa năm đó, tôi ra đường giao liên đón một đoàn họa sĩ từ Hà Nội vào. Đó là các anh Triệu Khắc Lễ, Đoàn Văn Nguyên, Lê Khắc Cường, Lê Văn Thìn, Trần Trung Chính, Trần Anh Tuấn, Trần Hữu Chi, Nguyễn Viết Ngọc, Phạm Văn Vết. Họa sĩ Nguyễn Thị Đến quê ở Bình Định, chị cũng vào khu 5 trong dịp này. Nguyễn Thị Đến đi cùng đoàn Văn công Giải phóng Miền Trung Trung bộ. Chị là họa sĩ chính của đoàn. Nghỉ ngơi ở dốc Voi một thời gian ngắn, một số họa sĩ được bổ sung về các tỉnh: Trần Trung Chính vào Khánh Hòa, Trần Anh Tuấn lên Kon Tum, Nguyễn Viết Ngọc đi Gia Lai, Trần Hữu Chi về Bình Định, Lê Văn Thìn xuống Quảng Nam... Cuối năm 1972, Đoàn Văn Nguyên đi vẽ ở Bình Định, Triệu Khắc Lễ đi Phú Yên, Lê Khắc Cường đi Quảng Ngãi. ở Dốc Voi cũng chỉ chừng vài ba tháng thì chúng tôi lại chuyển về Trà My. Thời gian ở Trà My có lẽ là đông vui nhất. Hội Văn Nghệ, phân xã Trung Trung bộ của Thông tấn xã Việt Nam chỗ anh Vũ Đảo, báo Cờ Giải phóng của anh Đặng Minh Phương, anh Nhị, tiểu ban Huấn học chỗ anh Thịnh, anh Lê, tiểu ban Tuyên truyền chỗ anh Hoài Nam, anh Huỳnh Ngọc Lý. Các bộ phận như Điện ảnh Khu 5 chỗ anh Đống, đài Minh ngữ chỗ anh Sinh, nhà in C9 cũng đóng quân ở quanh quanh với Văn phòng Ban Tuyên Huấn. Anh Sâm lúc đó là Trưởng ban. Anh Huấn, anh Hồ Dưỡng, anh Tám Nhớ là phó ban. ở Trà My, họa sĩ Hà Xuân Phong đã làm được một ngôi nhà sàn hai tầng đẹp và nổi tiếng lắm. Hội Văn Nghệ luôn là nơi gặp gỡ của nhiều anh chị em viết văn, làm thơ, các họa sĩ ở các địa phương về, các nhạc sĩ và anh chị em ở đoàn văn công, bên Điện ảnh, Thông tấn xã sang. Lúc này anh chị em văn nghệ cũng đã có gạo ăn, tình hình chung không đến nỗi căng thẳng như vài ba năm trước.

Cuối năm 1972, tôi cùng nhà văn Nguyễn Khắc Phục và nhà văn Hoàng Sơn đi công tác Quảng Đà. Xuống tới nơi đã thấy nhà văn Dương Đức Quảng có mặt. Anh Quảng đang công tác ở Phân xã Khu 5 của Thông tấn xã giải phóng. Sau sáu tháng theo chân du kích và đồng bào giải phóng ở các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc... Tôi và họa sĩ Thúc Hãnh còn vào vẽ ở đội biệt động Lê Độ. Vẽ tới đâu chúng tôi bày tranh ngay tại chỗ để phục vụ đồng bào, chiến sĩ trong vùng giải phóng. Chia tay họa sĩ Thúc Hãnh cùng các anh Hồ Hải Học và các anh ở Ban Tuyên Huấn Quảng Đà, tôi đeo ba lô cặp vẽ về thẳng sông Trà Nô, nơi cơ quan vừa dịch chuyển về. Họa sĩ Nguyễn Thế Vinh cũng đã vào lại chiến trường năm 1972. Nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo vào khu 5 năm 1973. Anh làm việc ở Đoàn văn công quân khu.

Giữa năm 1973, mấy anh em họa sĩ của Hội Văn Nghệ được Ban Tuyên huấn cử đi thiết kế trang trí phục vụ Đại hội Đảng bộ khu 5. Hội trường khá lớn được anh em bộ đội dựng bằng tre, nứa nhưng rất đẹp. Chúng tôi đã trang trí để Hội trường trang nghiêm, rực rỡ và lộng lẫy như hội trường Ba Đình, Hà Nội.

Năm năm công tác ở chiến trường khu 5, tôi đã đi vẽ ở các tỉnh Quảng Ngãi. Kôn Tum, Quảng Đà và các xã miền núi Quảng Nam. Tháng 6 năm 1974 tôi được ra miền Bắc chữa bệnh và đi học cao học nước ngoài. Tôi đã vẽ được hơn hai trăm bức kí họa. Đầu năm 1976, khi sang tu nghiệp ở học viện Hàn Lâm Mỹ Thuật Xô-phi-a (Bungari), tôi đã mang theo tất cả số tranh này.

Mùa xuân năm 1978, trong lúc đang học chuyên khoa Hoành Tráng, tôi được Hội Mỹ Thuật Bungari mời trưng bày triển lãm tranh. Triển lãm được làm tại nhà triển lãm của Hội Mỹ Thuật Bungari, ở trung tâm thủ đô Xô-phi-a. Trong triển lãm riêng này, tôi đã giới thiệu 12 bức sơn dầu vẽ tại Xô-phi-a về đề tài chiến tranh nhân dân và 100 bức kí họa vẽ ở chiến trường. Một số tranh sơn dầu đã được các bảo tàng trung ương mua. Riêng các bức kí họa thì tôi giữ lại, vì đây là những tài liệu quý giá, là hình ảnh của đồng đội tôi, có cả những người đã ngã xuống trên mảnh đất này, mảnh đất khu 5 yêu dấu!

Các họa sĩ Nguyễn Thế Vinh, Trần Hữu Chất, Trần Việt Sơn, Lý Châu Hoàn, Phạm Dân, Hồ Thu, Ngô Văn Riễn, Trần Hoàng Sơn, Triệu Khắc Lễ, Đoàn Văn Nguyên, Lê Khắc Cường, Phạm Hồng, Thúc Hãnh, Tạ Quang Bạo, Xu-man, Lê Văn Thìn, Trần Anh Tuấn, Phạm Văn Vết, Nguyễn Viết Ngọc, Trần Chung Chính, Trần Hữu Chi, Nguyễn Thị Đến... đều đã có nhiều sáng tác và tham gia các cuộc triển lãm Mỹ Thuật toàn quốc, các cuộc trưng bày triển lãm cá nhân về đề tài chiến tranh ở chiến trường Khu 5, dựa trên những bức kí họa các anh chị đã ghi chép từ thời đó. Nhiều tác phẩm của các anh đã có mặt trong các viện Bảo tàng Mỹ Thuật trong, ngoài nước. Các anh đều là những họa sĩ có tiếng, đã đóng góp tài năng rất lớn cho ngành Mỹ Thuật đương đại Việt Nam: Nhiều họa sĩ đã được vinh dự nhận các giải thưởng quốc gia. Riêng họa sĩ Xuân Phong thì không có được nhiều may mắn. Anh đã hy sinh trên dòng sông Trà Nô (Quảng Nam), sau khi anh đi chiến dịch Nông Sơn - Trung Phước về.

Xin thắp một nén tâm hương để tưởng nhớ họa sĩ Hà Xuân Phong. Lại xin được thắp ba nén hương thơm để tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã nằm lại ở chiến trường Khu 5. Những bức kí họa của họa sĩ Hà Xuân Phong vẫn được Hội Mỹ Thuật Việt Nam trân trọng gìn giữ và bảo quản cẩn thận.

Giang Nguyên Thái

 

[ Các bài mới ]
[ Các bài đã đăng ]