 |
| Lưu Công Nhân trở lại Bắc tháng 1/1997 |
Mùa hè 1984, từ Đại đoàn Đồng Bằng, tôi chuyển ngành về làm họa sĩ tại Công ty Phát hành sách Hà Nội - mà khi ấy nó vẫn còn là một tòa nhà ba tầng, đối diện với triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Xưởng vẽ của chúng tôi gồm hai người: tôi và anh Phan Tuấn Tài - một cựu họa sĩ binh chủng phòng không - không quân, tác giả của logo “FPT”.
Thế rồi, chính cái xưởng vẽ nhỏ xíu ấy đã trở thành “điểm tụ bạ” của khá nhiều họa sĩ - và họ đến bởi nhiều lý do: người đi xem triển lãm ghé qua, người tham gia triển lãm đáo lại; có khi lại là người đi mua sách hoặc đến nhờ mua sách (hồi đó vẫn còn chế độ thẻ cung cấp); thường xuyên hơn cả vẫn là đến vì ... tình cảm tâm giao; có người già như Trần Văn Cẩn, Mai Văn Hiến, Lê Thanh Đức; có cả người trung như Hoàng Công Luận, Lưu Yên, Lê Trọng Lân và những người trẻ như Phạm Minh Hải, v.v...
Trong ký ức tôi, đó là những năm tháng cuối cùng của thời bao cấp, “cận đổi mới” - nhọc nhằn... nhưng tràn đầy niềm vui “một đi không bao giờ trở lại”. Vui vì được xem (và được làm quen) với Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Lưu Công Nhân, Nguyễn Trọng Kiệm... trưng bày “sô lô”. Vui vì Bùi Xuân Phái bán được tranh, nghe phong thanh cũng đủ tiền ngang với cái “xe máy”...
Song, vui đấy rồi lại “tủi tủi” đấy - vì tranh Trọng Kiệm không “đi” được bức nào.
Có “giai thoại”: Trọng Kiệm “nghèo khó”, uống rượu xếch “trắng”, hút “Sông Cầu” - bày sau Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm “tham khảo” giá tranh Lưu Công Nhân ... nên bị “thua”. A contrario, Lưu Công Nhân “đề” giá cao chỉ để ...“chơi”!!!
Hôm ngài Jorland - tùy viên văn hóa Pháp - đến đòi mua “Rặng nhãn” của Lưu Công Nhân (tranh màu nước, khổ bé tẹo) - Lưu Công Nhân “ra giá” đâu những 4.000 đồng. Jorland kêu trời.
“ Bên bờ cái con sông Hồng này thì kém gì bên bờ cái con sông Seine kia” - Lưu Công Nhân bèn hùng hồn tuyên bố. Rốt cuộc, Jorland đành “thúc thủ”, chịu, không mua nữa. Cũng vào dạo ấy (1984-1985), Lưu Công Nhân thường “bảnh chọe” trong chiếc áo len thêu “đại tự”: “Lưu Công Nhân - trông quả đúng tác giả vẽ chân dung những quý bà, quý ông, những cô tiểu thư thành thị “xinh như mộng”... Và, Lưu Công Nhân cũng chỉ cười xòa khi nghe “Bổng sưu tập” đọc trẹo tên ông thành “Lưu Công... Toi”.
Bận khác (1992), thấy Lưu Công Nhân dép lê “tổ ong”, xắn “quần móng lợn”, đi ăn cơm bụi dưới trời mưa Hà Nội - lại sực nhớ ông là tác giả vẽ chân dung những lão nông “chi điền”, những cô thôn nữ, những anh trai làng, những phong cảnh làng quê, những buổi cày...
Có lần, xem tranh một người còn “quá trẻ”, bất đắc dĩ phải viết “lưu niệm”, Lưu Công Nhân liền giở sổ, cố lục tìm một đoạn “ready made” khả dĩ nhất - rồi ông ký tên mình chen vào bên dưới chữ ký của “người trước”, sau khi đã khéo đặt gọn gàng ba chữ: “y như trên”...
Chuyện nhiều chứ thực ra tôi chỉ thực sự bắt đầu có “duyên” và được Lưu Công Nhân gửi gắm “đủ thứ” kể từ cuối 1994, đúng vào dịp tôi mời ông cộng tác viết sách cho Nhà xuất bản Mỹ thuật, cho dù cái việc công ấy “không thành”. Năm ấy ông vẫn còn ở Vĩnh Yên, trừ Tết thì về Đà Lạt. Chẳng hiểu sao, đối với tôi, ông khá “hào phóng” trong việc thư từ, tặng sách, tặng tranh... Mặt khác, có điều gì khó chịu “với đời”, thậm chí “với mình”, ông cũng gửi tới tôi “hào phóng” không kém.
Và cũng bởi vậy, chỉ cần thông qua những nguồn tư liệu do chính Lưu Công Nhân “chuyển” cho, tôi đã có thể tạm phác nên bức chân dung của ông, nếu chưa hoàn chỉnh thì bù lại bằng độ chính xác.
... Năm 1970, Lưu Công Nhân đã “tự vẽ” chân dung mình: một bức chân dung “kỳ dị”, với chiếc mũ nồi, cặp kính sẫm và tấm vải sọc che từ miệng đến hết cổ. Phải chăng đó là “khuôn mặt của ai đó không ở tại thế giới này... và người họa sĩ đã nhập hồn để thấy được con người thật của phía bên kia... thể hiện một con người chưa hề có, thành một con người đã có...”
... “Lưu Công Nhân: Sinh nhằm giờ Tỵ ngày 5 tháng 7 năm Tân Mùi, theo dương lịch là ngày 17 tháng 8 năm 1931, tại quê nội, làng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ, nay là thành phố Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phú. Quê ngoại làng bên: làng Dữu Lâu cùng huyện.
Từ tuổi niên thiếu đến nay ngoài sáu mươi, thường hay đi rong xóm làng, khi cuốc bộ, khi cưỡi xe đạp, thong thả ngồi vẽ cảnh và người”.
Lưu Công Nhân, trong cuốn sách thứ hai của ông (xuất bản 1995) - đã “tự viết” như vậy.
ở chỗ khác, trong một bức thư (đề Vĩnh Yên, ngày 14/1/1995), ông thuật lại cho tôi, cụ thể hơn:
“... 1956 về ở xã Lê Lợi, Kiến An.
1959-1964 đi vẽ từ Bắc đến Vĩnh Linh.
1970 xưởng họa ở Thác Bà, xã Vĩnh Kiên, Yên Bình, Yên Bái.
1976-1983 ở Sài Gòn.
1984-1985 ở Hội An.
1985 ở Ba Lan.
1986 ở Đà Lạt.
1990 về xã Định Trung, Tam Đảo, Vĩnh Phú.
Tất cả những thời kỳ trên đều tương ứng với những giai đoạn vẽ”.
Về những người thầy của mình, ông xác định rõ: “Từ 1950 đến 1954 tôi là học trò trực tiếp của họa sĩ Tô Ngọc Vân ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp... Chịu ảnh hưởng các thầy Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm, các họa sĩ âu châu, Cổ Trung Hoa, tranh dân gian”.
Tiếp theo, Lưu Công Nhân thông báo: “Hiện tôi đang làm bản thảo cuốn Lưu Công Nhân của Lưu Công Nhân, gồm trên 1000 ảnh chụp tranh và những bài viết của tôi lai rai suốt 50 năm... sơ thảo đã xong gồm 11 cuốn”.
Khoảng 1996 - 1997, nhân dịp triển lãm hội họa Lưu Công Nhân ở phố Hàng Bài, Hà Nội, tôi có lại gặp ông. Ông chỉ một bức tranh đề dòng chữ: Nghệ thuật thế kỷ 20 là bịp hết. Rồi ông nói: Viết câu này chú có nghĩ tới cháu đấy.
Thoạt đầu, tôi không hiểu ý ông. Sau, ông đến nhà tôi chơi, ông giải thích ngay:
- Cháu có biết nguyên nhân của bệnh
parkinson không?
Và ông nhấn nhá từng chữ:
- Trong con người ta ... có hai chất cực kỳ đặc biệt..., vi... vi lượng..., song, chúng lại ... luôn luôn phải cân bằng nhau... Khi một trong hai cái chất đó... tụt đi - thì ...
Lát sau nữa, ông tự vỗ đầu, nói hơi khó khăn (từ 1995 ông mắc chứng bệnh parkinson, thỉnh thoảng phải vào viện điều trị):
- Chú muốn cháu viết điều này, tức là: “thằng nghệ sĩ” sống chết cũng phải tìm đúng đề tài. Vả lại, giống như Renoir, anh phải vẽ sao cho người ta “thấy” nhân vật của anh “đi lại” được ở ngoài cuộc đời...
Lá thư cuối cùng Lưu Công Nhân gửi cho tôi (kèm theo cuốn sách mới nhất của ông, cuốn thứ tư) - được viết trên hai tấm “các vi dít”:
“Tổng cộng 600 tranh màu nước. Tập ... (một chữ run không đọc được) : tranh sơn dầu 100 bức.
Tập 5 (ông viết bằng số la tinh) - Khỏa thân; Tập VI - Hoa; VII - Cảnh làng; VIII - Cảnh Tây Bắc; IX - Cảnh biển; X- Vịnh Hạ Long; XI - Hội An, Huế, Mỹ Sơn; XII - Bài viết”.
Theo dấu bưu điện, thư ông gửi từ Đà Lạt, ngày 14/3/2007.
Quang Việt
|