Khoảng 9 giờ sáng ngày 22 tháng 7 năm 2007, nhà văn Nguyễn Thiện Kế điện cho tôi: Lưu Công Nhân mất chiều qua rồi. Chúng tôi trao đổi nhanh và cùng im lặng thật lâu trước khi bấm tắt máy, ngừng cuộc đàm thoại. Gần đây, có nhiều thông tin qua lại giữa anh em văn nghệ sĩ ở Hội Phú Thọ với gia đình hoạ sĩ ở Đà Lạt nên chúng tôi đều biết Lưu Công Nhân đã yếu lắm. Song việc ông ra đi xa mãi vẫn gây hụt hẫng bất ngờ cho tất cả. Ông sinh năm 1931, thế là sự chơi, sự vẽ của ông trên cõi đời này đã dừng lại ở tuổi 77.Thưa hoạ sĩ Lưu Công Nhân một lần cuối - ông là một trong những người nghệ sĩ của nền dân chủ cộng hoà đích thực nhất, ông là “Người của dọc đường kháng chiến và bình yên”, ông cũng là một trong số ít văn nghệ sĩ tiêu biểu của đất nước được nhận Giải thưởng Nhà nước về VHNT đợt đầu tiên một cách viên mãn. Từ làng Dữu Lâu, Việt Trì ông giã biệt tuổi thơ, một thân một mình ra đi làm cuộc “trường chinh cùng nghệ thuật hội hoạ”. Bây giờ, ông lại đột khởi một cuộc đi. Lần ra đi này sẽ vô định cùng những sắc màu mê dại của đời sống và nghệ thuật ? Ông có trở lại miền đất cũ, nhà xưa, nơi làng Dữu Lâu cuối sông Lô, bên bến Việt Trì không ?
***
Trong tâm trạng bồi hồi trống vắng, buồn nhớ người thầy lớn, người bạn lớn- người bạn vong niên “già cả” Lưu Công Nhân- tôi miên man chìm vào suy tưởng, lục lọi và bày biện tất cả các kỉ niệm, kỉ vật được có với ông. Nào, đây là hai vựng tập tranh bề thế, đây là những bức tranh, bức kí hoạ, bức ảnh do Lưu Công Nhân chụp và đề tặng; nào, đây là hàng chục phong thư Lưu Công Nhân đã gửi cho từ Sài Gòn, từ Đà Lạt và nhiều nơi mà ông từng rong ruổi; nào, đây là những tờ thiệp mời xem triển lãm tranh của ông, hoặc cả ông cùng bạn hữu bày từ khắp trong Nam ngoài Bắc... Sẽ có nhiều người được ông quí mến như tôi, nhưng tôi cứ nghĩ hình như chỉ có tôi mới được Lưu Công Nhân dành ưu ái đặc biệt. ấy là, trên tất cả các phong bì thư, các lá thư, các tấm cáp, hay cả các ảnh chụp...gửi cho tôi - ông đều dùng bút đề thêm hay vẽ thêm những câu chữ và hình minh hoạ rất dí dỏm, hài hước, thật vui tươi, thật ngộ nghĩnh, thật lãng mạn và khác đời. Dấu ấn văn hoá và phong cách sống ấy của Lưu Công Nhân hiện diện rất nhiều ở nhà tôi: từ tranh trên tường, sách và thư trên kệ sách, cả những bình - lọ - vò gốm đặt trang trí đâu đó khắp trong ngoài nhà .
Nhớ, quãng năm 1996-1997, khi chuẩn bị rời khỏi căn nhà -xưởng vẽ ở cây số 2 Vĩnh Yên- Tam Đảo, cứ mỗi lần đi vẽ qua Việt Trì là ông lại vào chơi nhà tôi, “ biếu cậu cái này” và cười hỉ hả như ông già Nôel phương Đông vậy .Tôi không thể quên một lần gần cuối dịp ông rời nhà ở Vĩnh Yên để về Nam. Vừa sáng ra, mở cửa hàng (dạo đó tôi đang bán hàng trang trí nội thất và đồ gốm sứ giả cổ), đã thấy Lưu Công Nhân cùng một bác quen quen đỗ xe máy xịch trước cửa. Hai ông vẫn ngồi trên xe lai thồ khệ nệ vẫy tôi ra đỡ. Hoá ra ông rủ ông Liên (khi đó là trưởng phòng văn hoá thị xã) mỗi người một xe để lai cho tôi một chiếc bình men rạn hoa văn thật đẹp và một chậu hoa hồng tú cầu nhỡ nhỡ. Vào nhà, ông móc trong túi áo khoác to “rất hầm hố” ra một tượng ông Di Lặc men trắng toát trong tư thế ít thấy. Dáng ông Phật đứng, một tay cầm nậm rượu, một tay kéo đai quần trễ rốn, còn mặt thì ngửa lên trời cười ngất. Ông lại quờ tay một túi nhỏ khác lấy ra một chú voi sứ bé tí khá xinh...để đựng tăm. Những kỉ vật ấy luôn tràn đầy sinh khí, sống động ngự trong nhà tôi như tình cảm luôn hiện hữu mà chủ của chúng - danh hoạ Lưu Công Nhân- dành cho tôi vậy.
***
Nhớ lại, cuối năm 1991 từ thành phố Hồ Chí Minh, ông cùng bà Phụng (vợ ông) trở về Vĩnh Phú, mua nhà ở và mở xưởng vẽ. Ngôi nhà- xưởng ở Vĩnh Yên là một lâu đài nhỏ thật ấm cúng và đáng yêu của vợ chồng Lưu Công Nhân. Căn nhà lút giữa không gian cây cối- hoa cỏ ấy đã êm đềm gắn bó ông ở lại Vĩnh Phú đến sáu, bảy năm trời. Chắc có vài lí do gì đó cản trở ông về hẳn Dữu Lâu- nơi quê cha đất mẹ của ông. Nơi xóm Dữu Lâu khuất phía ngoại thành Việt Trì ấy còn một ngôi nhà cũ và chiếc cổng cổ đồ sộ thật uy thế của gia đình ruột ông. Tuy nhiên, ông đã rất vui và yêu đời với việc từ Vĩnh Yên hàng tuần đi xe máy lên Việt Trì, Đoan Hùng và khắp vùng núi Tam Đảo rong chơi. Dịp đó, tôi mới ở bộ đội về làm ăn tự do ở nhà và tập tọng làm thơ. Lúc ấy, ở Hội VHNT tỉnh, các nhà văn: Nguyễn Đình ảnh, Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Hưng Hải, Trần Dư, Cao Văn Định...đã là các tác giả uy tín mà tôi trân trọng học hỏi. Phải đến khi được tiếp xúc thường xuyên với Lão hoạ sĩ Lưu Công Nhân, tôi mới thêm ngộ ra điều mình còn thiếu hụt: ấy là sự tự do cho sáng tác, ấy là sự hiểu biết và từng trải việc đời, việc người; ấy là sự ra đi học hỏi thiên hạ...
Quán cà phê Tùng bao la ven hồ Tiên Cát một dạo năm 1993 là địa điểm mà thầy Lưu Công Nhân đã rỉ rả trau dồi cho tôi những vấn đề lí luận và thực tiễn sáng tác; về cái bản ngã và cái bản lĩnh của người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật. Sang năm 1994, khoá học đặc biệt kết thúc bằng việc tôi ra được tập thơ đầu tay và lên tàu độc mã Nam tiến. Nhờ thầy Lưu Công Nhân “lên dây cót” mà năm 1994 ấy, tôi đã trở thành Hội viên đầu tiên của Hội Vĩnh Phú, một mình rong chơi khắp nẻo phía Nam đất nước. Với ý thức học hỏi, thì những cuộc đi vòng quanh đất nước như vậy thật có ý nghĩa chân lí cho người ham sáng tạo.
***
Được học tập và đào tạo bài bản ngay từ tuổi trẻ, hoạ sĩ Lưu Công Nhân đã chứng tỏ suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình là một chặng dài liền mạch những nỗ lực không ngừng nghỉ cho hội hoạ và đời sống. Sự nghiệp hội hoạ của ông được bắt đầu từ khoá Đại học Mỹ thuật Việt Nam đầu tiên (1949-1952) sơ tán trên rừng sâu Việt Bắc. “Hoạ sĩ Lưu Công Nhân nhớ lại: trường Mỹ thuật kháng chiến chúng tôi lúc ấy không nhiều sĩ tử. Mỗi khi nghe tin được theo các chiến sĩ ta bám mặt trận là anh nào anh nấy náo nức vui sướng lắm. Thời đó được vẽ, nhất là trực tiếp vẽ bộ đội, dân quân hoả tuyến “tại trận” là một hạnh phúc lớn. Cuối năm 1950 nhà trường cử hơn chục người làm thành đoàn thâm nhập giải phóng Lào Cai-thị xã địa đầu biên giới. Thầy giáo thì có: Tô Ngọc Vân,Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang; trò thì có: Lưu Công Nhân, Trần Đông Lương, Trịnh Phòng, Quang Phòng, Thế Vị, Phan Thông, Trần Dư...”(trích ghi chép: Có một Lào Cai trong tâm tưởng của Ngô Kim Đỉnh- Báo Sài Gòn giải phóng, số 324 tháng 4.1997). ở bài: 50 năm đi và vẽ, nhà thơ Hoàng Hưng đã viết về Lưu Công Nhân trên chuyên mục Tài trí Việt Nam của tạp chí Thế giới mới năm 2001 như sau: “Cho đến đầu những năm 1960 ông vẽ bằng cảm nhận trực giác những vẻ đẹp dọc đường. Đến giờ nhìn lại, ông cho đó là những tác phẩm đẹp nhất của mình. Nhiều người cũng cho các phác hoạ màu nước của ông hồi ấy không một danh hoạ nào của nước ta qua nổi...Có người bảo: Lưu Công Nhân nghiên cứu rất kĩ hội hoạ hiện đại (ông là người có kiến văn bậc nhất trong thế hệ các hoạ sĩ được đào tạo trong kháng chiến chống Pháp). Nhưng ông không có tâm thế của người nghệ sĩ hiện đại- những người phải trực diện với nỗi cô độc nội tâm thăm thẳm, hoặc chịu dồn nén bức bách của ngoại cảnh, cho nên cuối cùng ông đã tìm về đúng mình”.
Trong những ngày Lưu Công Nhân vừa mới chia tay, tôi không muốn nhắc nhiều tới những lời đánh giá tốt đẹp về hội hoạ của ông của những tác giả tên tuổi trên hàng loạt báo chí suốt nhiều năm qua. Tôi tin rằng, sau ông ra đi sẽ để lại nhiều trống vắng và nuối tiếc cho nền Mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Sự nghiệp hoạt động sáng tạo nghệ thuật ở Lưu Công Nhân đã như một huyền thoại. Ông đạt ngưỡng vinh quang nghệ thuật từ rất sớm và ông đã giữ vững thế thượng phong đó cũng rất lâu. Tính cách và bản lĩnh con người công dân đã xác lập nên phong cách sáng tác hội hoạ của con người hoạ sĩ. Ông luôn ứng xử với đời thật từng trải và lịch lãm như vốn cuộc sống phải thế. Hình như ông đã luôn làm chủ được mình trong mọi tình huống và hoàn cảnh. Đời sống đôi khi cần diễn thì ông diễn thật điêu luyện, cần chân thành giản dị thì ông hồn hậu thật tinh anh.
***
Tôi còn rất nhớ hai bài báo mà Lưu Công Nhân phôtô gửi cho tôi năm 2000. ở bài phỏng vấn: Nhân cách hội hoạ Lưu Công Nhân, nhà báo Đào Bích An trên báo Tuổi trẻ thành phố HCM đã lược trích ý kiến của hoạ sĩ Rừng. Ông Rừng nói: “Nói tới Nhân, cứ mười người thì chín người rưỡi không ưa, nhưng ai cũng thừa nhận tài hoa và lòng đam mê nghệ thuật ở ông ít ai sánh kịp”. ở bài : Lời tự tình với tuổi, nhà báo- hoạ sĩ Phan Vũ đánh giá: “ Lưu Công Nhân là một hoạ sĩ đã tạo được sự nhuần nhuyễn, tranh của ông tạo ra những cảm xúc do sự dung dị, chân thật, không cần những đường nét ngoằn ngoèo, những mảng màu ồ ạt giấu đi sự bất lực của nghề nghiệp”. Tôi cũng nhớ những ý kiến của nghệ sĩ- hoạ sĩ Thế Hùng về tranh Lưu Công Nhân: “Nét tài hoa của Lưu Công Nhân là những mảng màu đẹp gợi cảm và lối chơi bố cục, vẽ mà như chơi, mà như không định vẽ, người ngoài nghề có cảm giác hoạ sĩ vẽ tranh quá dễ dàng, có biết đâu trong đó là bao nhiêu tâm huyết, là những năm tháng khổ đau...”- báo Văn nghệ tháng 3.1992. Trong bài : Lưu Công Nhân du ca trên những sắc màu (báo Văn nghệ 3.1994) Thế Hùng nhận xét: “Tranh sơn dầu của Lưu Công Nhân đa phần là tĩnh vật-đẹp về màu, duyên về hình mà gợi nhớ và níu giữ người xem...Tranh phong cảnh của Lưu Công Nhân vẽ trên giấy dó mang phong cách phương Đông những nét vẽ tung phá, đột khởi tả cây, tả mây, hoa và gió duyên mà tình. Ông đắm mình vào thiên nhiên, vào đồng quê: con trâu, em bé, một đốm lửa chiều. Đó là gì, nếu không phải là tình yêu cuộc sống”. Hoạ sĩ Trần Lưu Hậu- bạn học khoá Mỹ thuật kháng chiến của Lưu Công Nhân đã bộc bạch về bạn vẽ của mình: “Hoạ sĩ Lưu Công Nhân là một trong những người vẽ nhiều nhất, say sưa nhất và bày tranh triển lãm nhiều nhất”. Và đây đó trên rất nhiều báo chí, Lưu Công Nhân đã từng tâm sự: “Hạnh phúc là đi rong xóm làng, thong thả ngồi vẽ cảnh, vẽ người”. Ông cũng từng khẳng định: “Tôi muốn vẽ thật giản dị, thật phóng khoáng, nhưng rất hiện thực”.
Nhớ Lưu Công Nhân, tôi muốn nhắc lại vài lời tâm sự của ông qua những bức thư ông gửi cho tôi. Bức thư từ Đà Lạt ngày 22.3.2001 có đoạn: “Cái cốt lỗi của nghệ thuật là chất nghệ sĩ trong tâm hồn. Mà cái tâm hồn nghệ sĩ bao giờ nó cũng nảy nở trong cô đơn-mà cái khoảng trời cô đơn ấy thì ở những góc đời Đất Tổ thật tuyệt”. ở một lá thư khác gửi từ Sài Gòn ông viết : “ Nhớ Việt Trì quá, nhớ anh em ta ở Việt Trì quá...Đối với Lưu Công Nhân thì vĩnh viễn hết cảnh đi Honđa đến gốc cây bàng, dừng xe vỉa hè bên gốc bàng đứng gọi: Đỉnh ơi! Và đến trưa hai thằng lại sang quán cơm gần đó, ăn, rồi...Lại về đến cây số 2 thân mến mở khoá ra và nằm khểnh”.
Những năm được đi chơi vãn cảnh và sáng tác cùng ông, tôi nhận ra ông là người bạn vĩ đại thật tốt của tôi. Cùng như thế, ở vùng Vĩnh Yên ông đã đánh bạn tâm giao với ông giáo Liên, với hoạ sĩ gốm Lê Duy Ngoạn và chú trò nhỏ đáng yêu-hoạ sĩ Hoàng Trúc. ở vùng Việt Trì, ngoài tôi, Lưu Công Nhân cũng thường qua chơi chỗ các bạn: Họa sĩ Đỗ Dũng, Quang Thái, nhà văn Thiện Kế, nhà nhiếp ảnh Võ Huy Cát...Tôi cũng rất nhớ lời nhận định đáng yêu của hoạ sĩ Chu Hồng Sơn (phụ trách Nhà triển lãm 19 Hàng Bài) dành cho Lưu Công Nhân trong một lần anh tháp tùng hoạ sĩ lên Việt Trì: Với Lưu Công Nhân, ông đã sống một cuộc đời đáng sống, nhưng ông đã chơi bằng hai cuộc đời đáng chơi.
Để tạm kết thúc những suy tưởng, những hồi ức sâu đằm về Lưu Công Nhân sau ngày ông đi xa, tôi xin mạo muội cung cấp thêm một chi tiết nói lên tính văn và tính đời luôn lấp lánh trong ông. ấy là đã lâu lắm, Lưu Công Nhân thường khoe tôi xem nhiều bài viết thật nghĩ ngợi của ông. Đôi lần ông bảo tôi: cậu biên tập lại cho gọn vì văn hoạ sĩ lê thê lắm. Tôi đâu dám nghĩ thế. Dạo ấy, báo Văn nghệ cũng đã trao tặng thưởng: bài viết hay trong tháng/quí cho loạt bài trao đổi về hội hoạ của ông. Một lần ông đưa tôi hai trang giấy có vẽ minh hoạ, có chép thơ nguệch ngoạc- kiểu viết chữ vội của ông. Biết ông có nhiều tâm sự riêng từ trong Sài Gòn và Đà Lạt nên tôi đọc kĩ bài thơ này, sao chép lại... rồi cất đi. Ông không nhận bài thơ ấy của ông mà bảo “xem hộ cho người bạn tớ”. Hôm nay, xin được tưởng nhớ bằng chính ý tứ và hương sắc của bài thơ ấy. Bài thơ: Tình yêu không thời gian.
Gối cái lạnh gió Mùa xứ Bắc
Càng vắng em anh càng nhớ thêm nhiều
Chúng ta như mái nghiêng những căn nhà trở gió
Dù thế nào anh vẫn yêu em
Chiều cuối năm
Lòng bơ vơ Tết
ước một lần đi không cảnh tiễn đưa
ước một lần bước ra từ vòm trời tranh vẽ
Vầng ngực em trần ngả thơm trên gối mẹ
Dành cho anh ấm áp những mái nhà
Sương rơi nhiều
Nhớ như Đà Lạt ngủ
Như hai mái nhà chấp cánh
tình yêu không thời gian .
Việt Trì những ngày cuối tháng 7.2007
Ngô Kim Đỉnh
|