 |
| Bác Hồ xem triển lãm các tác phẩm ở miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước |
Trong bức thư gửi các họa sĩ năm 1951, Bác viết: “Chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm lại là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. Bác Hồ, ngay từ ngày đầu hoạt động cách mạng đã dùng ngòi bút viết và vẽ làm vũ khí đấu tranh, Người coi nghệ thuật là một mặt trận.
Trước đó các nhà văn nghệ lớn nước ta còn đang lúng túng trong cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”. Thư Bác đã kịp thời xác định phương hướng cho văn nghệ sĩ, quyết định sự nghiệp cho giới mỹ thuật. Từ đó, với trách nhiệm người chiến sĩ, các họa sĩ và nhà điêu khắc đã chiến đấu cho dân tộc với lý tưởng rõ ràng.
Bác nói điều trên trước hết là từ kinh nghiệm hoạt động cách mạng của mình. Trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, Bác kể: “Trong hội chợ ở Mác xây, ngoài những tranh vẽ lũ công khanh Việt Nam đang lúc nhúc lạy quỳ trước vua bù nhìn cùng chó ngao toàn quyền, khâm sứ, ngoài những công nhân trần trụi kéo xe thuê, còn chiếu phim có những bà già ăn trầu răng đen, những công nhân gầy gò, rách rưới, những người đóng khố đang leo dừa - chúng gọi đó là “hình ảnh An Nam”. Rõ ràng là dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải làm cách mạng”. Và tại Pháp, Bác đã mở đầu hoạt động cách mạng bằng làm văn nghệ. Bác viết văn và vẽ biếm họa đả kích chế độ thuộc địa. Trên báo Le Pa ria (Người cùng khổ), chúng ta tìm được nhiều tranh của Bác tố cáo bọn thực dân Pháp đánh đập tàn nhẫn nhân dân các thuộc địa, như đã nêu ra nghịch cảnh người phu xe Việt Nam còm cõi gò lưng kéo chiếc xe chở tên thực dân to béo; đề cao khí tiết những người yêu nước như cụ Phan Bội Châu trước sự dụ dỗ của Toàn quyền Pháp và quan lại Nam triều. Những tranh ấy đã chỉ rõ kẻ thù mà nhân dân thuộc địa cần đánh đổ. Những tranh này được vẽ bằng sự thôi thúc của tinh thần yêu nước, đã có tác dụng giác ngộ các dân tộc thuộc địa, mà trước hết là nhân dân Việt Nam, nét vẽ ít, thoáng đãng mà thật sắc. Về sau, trong thời kỳ bị Quốc dân Đảng Trung Quốc giam cầm, Bác viết tập thơ Ngục trung nhật ký, cũng tự vẽ bìa với hình hai nắm tay bị xích giơ lên cao bất khuất. Rồi khi ra tù, về Cao Bằng chỉ đạo cách mạng tại chỗ, ở trong hang Pắc Bó, Bác tạc tượng Các Mác để kiên định con đường đi theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin.
Khi hoạt động ở Pháp cũng như năm 1924 sang Liên Xô, Bác thường đến xem các triển lãm mỹ thuật, và theo họa sĩ Thụy Điển Êrích Giôhanxơn - bạn thân của Bác, thì hồi ấy “Người nói một cách tinh tế về những tác phẩm mà Người đã xem và trước hết về những nghệ sĩ, đã mạnh dạn phơi trần sự thật xã hội, kêu gọi đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập và dân chủ”. Bác đã định hướng rõ ràng cho nghệ sĩ là phải lãnh sứ mạng chiến sĩ xung kích. Cho đến bức thư Bác gởi các họa sĩ năm 1951, Bác viết rất bình dị, chân tình “nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật để anh chị em tham khảo”. Chỉ “nhân tiện” và để “tham khảo” như một lời tâm sự thân mật. Bác nói: “Chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Chỉ những kẻ tách mình ra khỏi nhân dân, chống lại kháng chiến và Tổ quốc mới không là đối tượng phục vụ của nghệ thuật cách mạng. Trong khái niệm “công - nông - binh” thì “binh” không phải giai cấp, được cấu thành chủ yếu từ công và nông. Vì vậy, lúc này Bác dặn những cán bộ văn hóa: “Các chú viết và vẽ thì phải chú ý đến công nông, phải viết về công nông, vẽ về công nông”. Sau này, khi nửa nước đã giải phóng và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bác không cần nói cụ thể hai giai cấp công - nông nữa, mà thường dặn: “Làm văn nghệ phải chú ý đến đối tượng phục vụ là nhân dân; viết nói phải dễ hiểu”. Tất cả các thành phần cấu thành nhân dân đều được chú ý.
Đối với công tác địch vận, Bác cũng chú ý khai thác sức mạnh của tranh biếm họa, chỉ rõ cho họa sĩ hướng vẽ và quan tâm đến nhân dân. Đầu năm 1948, trong thư chúc Tết báo Bạn chiến đấu (tờ báo tiếng Đức, nhằm vận động lính lê dương phản chiến), Bác viết: “Tờ báo này phải dành cho những người lính lê dương, những chàng trai vui tính, dễ cáu kỉnh, dễ cảm xúc chứ không phải những người làm chính trị sâu sắc. Bởi vậy cần có những bức tranh, những bức vẽ khôi hài, những gì làm cho vui cười, những tin tức có liên quan đến đời sống nhân dân ( ...). Nói tóm lại, cần làm cho họ cảm động, thoải mái, làm cho họ cười và khóc, để lôi cuốn họ về phía chúng ta”.
Chính vì đối tượng của nghệ thuật là nhân dân, nên nghệ thuật phải sát trình độ hiểu biết của nhân dân. Trong những năm đầu cách mạng, hầu hết nhân dân còn mù chữ, chưa quen với những khái niệm trừu tượng mới, nên khi nghe ủy ban vận động đời sống mới định ra ba nguyên tắc “dân tộc - dân chủ - khoa học”, Bác tỏ ra ngạc nhiên và nói: “dân quê đã mấy người hiểu rõ thế nào là dân chủ, khoa học”. Sau này, khi xem phim Bình minh trên rẻo cao, Bác nói: “Nhiều chỗ Bác không hiểu, Bác không hiểu thì chắc đồng bào cũng không hiểu”. Rõ ràng Bác luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên hàng đầu. Dân có hiểu thì tác phẩm nghệ thuật mới phát huy được giá trị. Đề cao nhân dân, Bác lại coi trọng nghệ sĩ. Không chỉ đầu cách mạng và trong kháng chiến, ngay cả sau ngày miền Bắc được giải phóng, số họa sĩ và nhà điêu khắc còn rất ít. Với số nghệ sĩ hiếm hoi ấy, việc chỉ đường đi đúng để họ hoạt động là rất cần. Trong bức thư gửi các họa sĩ năm 1951, Bác viết: “Chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm lại là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. Trong một dịp khác, Bác dặn họa sĩ Diệp Minh Châu: “Phải nhớ học tập chính trị và rèn luyện tư tưởng cho tốt. Có tư tưởng chính trị tốt thì vẽ mới chóng tiến bộ được”. Và do đó, đối với những họa sĩ tài năng được cả giới quý mến, nhưng không đi theo kháng chiến, khi Diệp Minh Châu hỏi, Bác đăm chiêu trả lời: “ờ, Bác cũng tiếc... dù có tài năng, nhưng đã là nghệ sĩ phải chọn đường đi cho đúng. Không thì phí cả cuộc đời mình”. Những họa sĩ đã vẽ, nặn Bác và tặng tác phẩm cho Bác, Bác luôn nhớ và có dịp là gởi lời cảm ơn. Để đội ngũ ngày càng đông, Bác căn dặn các họa sĩ đàn anh: “Các chú là lớp người đi trước, nên dìu dắt anh chị em lớp trẻ, có kinh nghiệm gì thì phải tận tình bày vẽ cho anh chị em. Nhưng cũng phải thận trọng, chú ý đừng để mất khiếu sáng tạo của họ”.
Không những vạch hướng, Bác còn chỉ đường cụ thể từng bước đi cho họa sĩ. Ngay từ những năm 1920, đàm đạo về nghệ thuật với họa sĩ Êrích Giôhanxơn, Bác đã “nhấn mạnh rằng mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”. Trong kháng chiến, Bác dặn văn nghệ sĩ: “Làm công tác văn nghệ nếu không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu”. Cho đến Đại hội Văn nghệ lần thứ hai (1957), Bác đến và hỏi ngay: “Việc khai thác vốn cổ dân tộc, các chú đã làm đến đâu rồi?” và nói tiếp: “Nên làm nhanh. Có trước mới có sau. Có cũ mới có mới. Nhưng chúng ta không nên nệ cổ. Bây giờ là thời đại cách mạng, phải nhanh, phải cải cách”.
Giới mỹ thuật muốn vẽ và nặn chân dung Bác, Bác hạn chế hết mức, Người nói: “Các chú hãy nặn tượng tập thể bộ đội, dân quân, thanh niên, thiếu nhi anh hùng, không có nhân dân thì không có Bác”. Nhưng khi cần có tác phẩm về Bác để tuyên truyền cho nhân dân trong nước và trên thế giới biết về cách mạng Việt Nam thì Bác sẵn sàng. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định xin phép chụp ảnh Bác, Bác bảo: “Các chú chụp ảnh mình để làm gì?” - khi biết các nghệ sĩ cần có ảnh Bác cho nhân dân được xem, thì Bác đồng ý. Một dịp khác, Bác còn giúp các nghệ sĩ chụp ảnh: “Ta phải tạo điều kiện cho các chú ấy làm công tác tuyên truyền. Công việc ấy cần thiết lắm”.
Vẽ và nặn chân dung Bác là một công tác cách mạng, nên trong một số trường hợp Bác đã dành không ít thời giờ ngồi mẫu cho các nghệ sĩ làm việc. Tháng 5/1946, theo yêu cầu của Hội Văn hóa cứu quốc, cần có tác phẩm tạo hình về Bác để trưng bày trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần đầu, mặc dù Bác đang chuẩn bị lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Người vẫn dành ra ba tuần, mỗi ngày hai tiếng từ 6h đến 8h ngồi mẫu cho các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim sáng tác. Bác ngồi ung dung, rất tinh ý và tế nhị tạo điều kiện tốt nhất cho nghệ sĩ làm việc. Cho đến khi đi Pháp, Bác còn thân mật nói: “Chúc các anh chị ở lại làm được việc cho phòng triển lãm. Khi về nước, tôi sẽ đến xem”. Cuối năm 1958, theo nguyện vọng của sứ quán Cộng hòa dân chủ Đức muốn có pho tượng hoặc bức họa cỡ lớn vẽ Hồ Chủ tịch mà tác giả phải là người Đức, Bác đồng ý để nhà điêu khắc Đức Henrich Đrăcke đến nặn tượng Bác. Để kết hợp, Bác cho một số anh chị em Việt Nam cùng đến làm. Thế là hàng ngày Bác dành một giờ rưỡi đầu buổi sáng ngồi mẫu cho nhà điêu khắc Henrich Đrăcke và các bạn đồng nghiệp Việt Nam: Trần Văn Lắm, Diệp Minh Châu và Trần Văn Cẩn nặn và vẽ Bác. ở tuổi ngót 70, Bác ngồi thanh thản, ung dung trên bục cao, không hề tỏ ra mệt mỏi để mọi người tiện quan sát. Bác còn tươi cười dặn các nghệ sĩ Việt Nam:
“Các chú phải cố gắng nhé, thi đua với đồng chí Đrăcke mà làm, không thì xấu hổ đấy”. Sau chừng mười ngày, công việc xong. Nhà điêu khắc Đrăcke đã tâm sự: “Sau bao nhiêu năm trời, tôi vẫn nhớ rõ đôi mắt sáng ngời, chòm râu bạc trắng như cước, vầng trán cao và cả những nếp nhăn, những chấm mồi trên da mặt Bác... tất cả đều toát lên vẻ hiền từ, độ lượng, bao dung của một vị cha già rất thân yêu”. Cũng có đôi dịp nữa, một số họa sĩ nước ngoài có nguyện vọng sáng tác về Bác, được Bác ân cần ngồi mẫu cho vẽ, và tiện thể Bác cũng cho phép một số nghệ sĩ Việt Nam “ăn theo”. Đặc biệt từ tấm lòng dành cho đồng bào miền Nam, Bác rất ưu ái các nghệ sĩ của “đất thành đồng”. Trong kháng chiến, họa sĩ Diệp Minh Châu có dịp ra Việt Bắc, thưa : “Thưa Bác, từ miền Nam ra đây, cháu rất mong được gặp Bác, được vẽ Bác, được vẽ Bác thật nhiều để sau này cháu mang về Nam cho đồng bào được thấy chân dung Bác”. Vì đồng bào miền Nam, Bác cho họa sĩ ở bên cạnh gần nửa năm, và họa sĩ đã vẽ được nhiều cảnh có Bác.
Trong khi ngồi mẫu, Bác sẵn sàng chiều theo yêu cầu nghề nghiệp của các nghệ sĩ: Chuyển bàn làm việc ra cạnh cửa sổ để có thêm ánh sáng, hoặc kê bàn trên bục cao để mọi người cùng thấy rõ, vừa đọc sách báo vừa hỏi chuyện thân mật, đôi khi cho quà và nói chuyện vui để gây hứng thú cho các nghệ sĩ. Mọi người vẽ và nặn chân dung Bác đều vô cùng sung sướng, chỉ sợ không đủ sức diễn tả tinh thần Bác. Bác còn chỉ cảnh đẹp và khuyến khích họa sĩ vẽ, Bác từng hỏi họa sĩ Diệp Minh Châu: “Chú đã vẽ được gì chưa?” và động viên “Chú cố vẽ đi nhé!” Những khi nghỉ việc, Bác còn đến xem họa sĩ vẽ và góp ý thân tình. Họa sĩ Diệp Minh Châu đã từng được Bác chỉ cho những cảnh đẹp. Bác kéo họa sĩ ngồi cạnh, chỉ qua khung cửa sổ để thấy mảnh trăng liềm vừa nhô khỏi núi, toả sắc xanh huyền ảo xuống những dãy rừng xa: “Của chú đấy!”.
Quý yêu nghệ sĩ, Bác càng nâng niu những tác phẩm của họ. Mọi lần có triển lãm mỹ thuật, dù bận mấy Bác cũng cố đi xem và cho những lời nhận xét chí tình. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Hội Văn hóa cứu quốc đã tích cực chuẩn bị một cuộc triển lãm văn hóa, và ngày 7/10/1945 Bác đã đến dự khai mạc. Sau khi xem những tranh bày ở đây, Bác nhận xét chân tình là có sự chuyển mình của họa sĩ, nhưng còn nhiều trăn trở, phải dứt khoát hơn nữa. Lời Bác kiên quyết mà thiết tha khiến ai nghe cũng thấm thía: “Những bức tranh này tỏ ra các nghệ sĩ của ta lâu nay đã cố gắng tìm một con đường đi. Nhưng tiếc một điều là không muốn đi dưới đất mà cứ muốn vút lên trời: chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất thật của sinh hoạt rất ít”. Bác nhắc lời của văn hào Lỗ Tấn về việc người trần mơ vào cõi tiên, thấy mãi cái đẹp không thay đổi mà phát chán, lúc đó mới thấy quý cõi trần sinh động có sự ham mê của con người. ở đấy, Bác cũng khẳng định: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải là quan trọng ngang nhau: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa”. Rõ ràng văn hóa ngang hàng với chính trị, thế nhưng một thời gian dài chúng ta lại cứ nghĩ văn hóa là theo sau và phục vụ chính trị. Trở lại đúng lời Bác, ta mới thấy Bác đánh giá cao văn hóa biết chừng nào. Và từ đấy, Bác kêu gọi: “Mong rằng các anh em văn hóa đã cố gắng, xin cố gắng lên mãi, để cùng đồng bào đi đến chỗ hoàn toàn vẻ vang của nước nhà”.
Với Triển lãm hội họa 1951, cũng như năm 1962 tại Triển lãm ảnh nghệ thuật lần thứ IV, Bác bảo: “Đây là Bác nói chuyện chứ không phải huấn thị.” Những ý kiến tham khảo, nói chuyện của Bác thực sự là một văn kiện quan trọng xác định trách nhiệm và hướng đi cho văn nghệ sĩ.
ở Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1958, Bác ghi cảm tưởng rất ngắn, đánh giá sự tiến bộ, nhưng cũng yêu cầu sự phấn đấu: “So với trước, đã tiến bộ khá. Cần phải cố gắng nữa, để tiến bộ hơn nữa. Mỹ thuật cũng phải ra sức phục vụ nhân dân”. Tới thăm Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1962, Bác nói lên bước tiến mới: “Các tranh tượng đã nói lên được tình người, tả chân thật những người lao động bình thường. Anh chị em đã có cố gắng đi vào đời sống. Thế là tốt”. Nhưng Bác cũng chỉ ra những yếu kém: “Tranh chưa nói lên được khí thế thi đua của quần chúng. Nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc”. Cũng dịp này, tại triển lãm ảnh nghệ thuật lần thứ IV, Bác nói về nghệ thuật lập thể (cubisme) và vị lai (futurisme): “Các tranh ảnh thuộc các trường phái kể trên rất khó hiểu và ngay đến các nhà chuyên môn có khi cũng không hiểu nổi”. Trong tình hình nhận thức lúc ấy của nhân dân về nghệ thuật còn có hạn, Bác chỉ nói những tranh thuộc hai trường phái trên là khó hiểu, nhưng người thận trọng không phủ nhận, hàm chứa sự học hỏi vươn tới khám phá cái chưa hiểu. Bác cũng phê bình phần mỹ thuật trình bày bìa cuốn danh mục ảnh: “Vẽ lằng nhằng như bùi nhùi” và tem kỷ niệm vẽ “Con mắt gì mà dữ tợn thế”. ý Bác muốn một sự trong sáng, minh triết, hồn hậu hợp với sở thích của dân.
Đối với phong trào mỹ thuật, Bác khen chê rõ ràng, dứt khoát. Nhưng với từng người và từng tác phẩm cụ thể, Bác phê bình rất ý nhị và dí dỏm. Chẳng hạn xem bức tranh họa sĩ Diệp Minh Châu vẽ nhà Bác, Bác nói: “Bác có ý kiến, chú có đồng ý không?” và đợi họa sĩ thưa: “Cháu xin Bác cho ý kiến”, thì Bác bảo: “Chú vẽ nhà Bác chỗ này còn trống quá. Chú cho thêm con chó nhỏ của Bác vào đây nhé, thường ngày nó vẫn nằm đây. Có người có vật cho vui”.
Một lần khác, xem tranh Diệp Minh Châu vẽ Đại hội Đảng lần thứ hai, Bác nhìn sang các đồng chí Trường Chinh và Phạm Văn Đồng rồi nói: “Chú Châu vẽ có cái lạ... không đề tên cũng nhận được người”. Phải chăng Bác khen vẽ giống, dễ hiểu. Lần khác xem tranh Diệp Minh Châu vẽ cảnh núi rừng Việt Bắc, Bác gọi anh em đến cùng xem, mọi người bảo: “Vẽ giống lắm ạ”, Bác cười độ lượng: “Đấy, ý kiến quần chúng xem được. Thế là được”. Phải chăng Bác khuyên cần lắng nghe ý kiến mọi người. Dịp xem tượng và tranh của bốn nghệ sĩ Đức và Việt Nam trực tiếp nặn và vẽ Bác, Bác khen: “Các chú vẽ Bác đẹp quá... trông như bốn anh em Cụ Hồ”. Với Bác, trong đẹp có yếu tố giống, nhưng cần phải mang nét riêng qua cảm nhận của từng họa sĩ. Bác khen dí dỏm, còn chê thì rất tế nhị. Thẳng thắn quá hay mất lòng, ở cương vị Bác, mọi người dễ nghĩ Bác chê là khiển trách, mà văn nghệ sĩ bị khiển trách dễ bi quan, có thể liên hệ việc Bác vạch ra nhược điểm của một bộ phim và dặn người có trách nhiệm: “Chú là cán bộ phụ trách. Bác nói với chú, nếu chú đồng ý, khi về cơ quan nói lại thì nói đấy là ý kiến của chú, đừng nói là Bác nhận xét mà các chú làm phim buồn, và nếu các chú ấy không sửa được thì lại tủi, vì biết Bác phê bình mà không sửa”. Thật cảm động, Bác không áp đặt, tôn trọng cả những điều Bác không thích.
Từ những nhận xét trên, chúng ta thấy Bác rất coi trọng cái tình người trong tranh tượng, Bác đòi hỏi tranh tượng phải nói lên được cái khí thế của nhân dân... có nghĩa không phải chỉ ghi nhận vẻ ngoài của nhân vật, sinh hoạt, mà phải toát được chiều sâu tâm hồn. Và như thế, vẽ đẹp, vẽ giống chính là sự sống động, đẹp từ ngoài vào trong cả hình thể và phong thái.
Bác cũng yêu cầu tranh và ảnh phải khác nhau. Xem bức ảnh Phong cảnh Sa Pa có đề mấy câu thơ chữ Hán, Bác bảo: “Là ảnh, sao lại bắt chước tranh”. Và chúng ta cũng hiểu tranh không nên bắt chước ảnh, mỗi thể loại nghệ thuật có cách riêng.
Trong hàng chục năm hoạt động cách mạng, khi cần Bác có vẽ tranh và nặn tượng, song không vì thế mà nói Bác là họa sĩ. Bác còn từ chối cả danh hiệu nhà văn nghệ, thậm chí là nhà thơ - dù ai cũng biết Bác làm nhiều thơ và thơ Bác rất hay. Bác đến với mỹ thuật chính là ở tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho cả một loại hình nghệ thuật, ở tấm lòng yêu thương và quý trọng nghệ sĩ. Bác đưa mỹ thuật vào chính trị một cách tự nhiên mà mọi nghệ sĩ yêu nước đều thấy cần thiết phải gắn bó với nhân dân, phải phụng sự kháng chiến, phải đặt Tổ quốc lên trên hết. Nhân dân có công - nông, cũng có những tầng lớp yêu nước khác. Dân trí ngày càng cao thì mỹ thuật cũng phải ngày càng sâu sắc và đậm giá trị tạo hình. Chu Quang Trứ |