Đầu năm 2001, các cán bộ khảo cổ học của tỉnh Quảng Nam tiến hành khai quật tại nhóm tháp Khương Mỹ. Tại phần đế của tháp Nam, dọc theo mặt phía Nam ở độ sâu khoảng 1m, các nhà khảo cổ học đã phát hiện một số phù điêu sa thạch của phần móng kiến trúc có độ cao khoảng 90cm. Nằm ẩn trong lòng đất, những phù điêu này hầu như chưa từng được biết đến qua hàng thế kỷ nay, được chạm khắc với hình ảnh con người, khỉ, nai, hoa văn thảo mộc và các motif kiến trúc (Thượng Hỷ 2001:41-42)
Hình ảnh người đàn ông có nhiều đầu, chiến binh săn nai là
những bằng chứng cho thấy những khối đá này mang nội dung của vở trường ca hùng
tráng Ramayana. Hơn nữa, đây là đoạn rất cao trào trong vở trường ca này, như
đoạn tìm thấy và săn đuổi Nai Vàng, nàng Sita bị bắt cóc, sự can thiệp của
Jatayu. Các phù điêu cũng mô tả cảnh Rama và Laksmana truy tìm công chúa bị bắt
cóc, trong khi một bức phù điêu khác mô tả cảnh Vườn Asoka trong cuốn
Sundarakanda, cuốn thứ 5 của vở trường ca này.
Bên dưới những hình ảnh này là một bức phù điêu chạm khắc
hình những con khỉ, mỗi con khỉ ở một tư thế và điệu bộ khác nhau và đều mang
một nhạc cụ. Những hình ảnh lạ thường này lập tức làm chúng tôi loé lên hai mối
liên tưởng khác nhau. Giống như trong thơ ca tiếng Phạn, đây là dhavani (gợi ý)
của các chương Mở đường và Vượt đại dương đến Lanka thuộc nội dung một đoạn
khác của vở trường ca - Kiskendakanda. Đồng thời, do những hiện vật này nằm ở
phần móng thấp nên có thể được xem như một kiểu chơi chữ bằng hình ảnh, vì
những hình khỉ này đã tiếm vị như là vũ ban nhạc công trong giản đồ trang trí
truyền thống của một đền thờ ấn Độ giáo. Những hình khỉ này là một kiểu phá
cách và vượt qua các rào cản trong việc kể lại nội dung trường ca, gợi sự liên
tưởng đến hình ảnh của các chiến binh Hy Lạp trên một bệ thờ tại Pergamon
nghiêng mình về phía các bậc cấp như thách thức các khái niệm về không gian và
thời gian.
Tuy nhiên, gần đây có một khám phá đáng chú ý nhất tại
Khương Mỹ là sự mô tả một cảnh trong trường ca Ramayana có thể xem là độc bản
điêu khắc tại Châu á - cảnh đối mặt giữa Ravana và Sita tại Vườn Asoka.
Các phù điêu này đã được vệ sinh sạch sẽ, đo đạc và được đưa
vào hồ sơ, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi được đặt ra:
Tại sao trích đoạn đặc biệt này lại xuất hiện ở đây và tại
vị trí này? Tại sao nó lại được thể hiện dưới hình thức như vậy? Tại sao nó
được tạo ra ở điểm giao thời đó? Nó có ý nghĩa gì đối với những người có trách
nhiệm hay sáng tạo ra nó?
Khương Mỹ được phát hiện và khai quật lần đầu tiên năm 1901,
đúng một thế kỷ trước khi những phù điêu này được phát hiện. Ba ngôi tháp cùng
với các chi tiết trang trí, được Henri Parmentier mô tả cụ thể trong cuốn
Monuments Cams de l’annam (Di tích Chăm An Nam) xuất bản năm 1909. Trong cuốn
sách này, ông xem Khương Mỹ có vai trò ngang bằng với các di tích khác như Trà
Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương (Parmentier:246). Trong đợt khai quật này của Viện
Viễn Đông Bác Cổ, nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị của Khương Mỹ đã được
tháo gỡ và đưa về Bảo tàng Chăm Đà Nẵng và lưu giữ đến ngày nay, trong đó có
bức lá nhĩ Krishna Govardhanna của Tháp
Nam.
Phần lớn các nhà khảo cổ học và nhà nghiên cứu từng làm việc
tại Việt Nam đầu thế kỷ 20 đều cho rằng Khương Mỹ được xây dựng đầu thế kỷ 10,
mở đầu giai đoạn “cổ điển” của nghệ thuật Chăm. So với phong cách Đông Dương
trước đó, thì nghệ thuật của giai đoạn “cổ điển” “quay lại với sự tiếp cận nghệ
thuật ôn hòa hơn và dễ nhận biết hơn trong các chuẩn mực thẩm mỹ, thể hiện bởi
những chi tiết trang trí thanh thoát hơn” (Guilion 2001:41). Đây là phong cách
có mối liên hệ mật thiết với phong cách
điêu khắc của tháp Mỹ Sơn A1.
Sự xuất hiện của motif kala-makara ở Khương Mỹ tương ứng với
các motif trang trí của kiến trúc Phật - ấn giáo Java thế kỷ thứ 9, điều này
càng làm rõ thêm mối liên hệ về phong cách nói trên (Le Bonheur 1998:270).
Những chuỗi hoa văn thảo mộc liên tiếp và kích thước lớn dần tại vòm cửa giả
các tháp Khương Mỹ cũng gợi nhớ đến những bản sao của các hoa văn trang trí
kiến trúc Khơme trước đây.
So sánh với các di tích Java đồng đại, nơi có truyền thống
sử dụng phổ biến hình ảnh mô tả nội dung trường ca, thì các phù điêu Khương Mỹ
đã bắt đầu mất dần tính tương đồng. Các phù điêu mô tả trường ca Ramayana tại
Khương Mỹ thể hiện các chi tiết điêu khắc thon và dài trên một bề mặt bằng
phẳng. Việc sắp xếp cùng một chủ thể lại với nhau theo kiểu tiếp diễn phản ánh
rõ ở đây đã sử dụng phương pháp kể chuyện liên tục. Nội dung của các chương
được ngắt ra và được tô điểm bằng các hình ảnh cây cối, có khi là chi tiết các
ngôi đình. Những hình ảnh này có thể bắt nguồn từ hình ảnh các ngôi đình Java
(pendopo), nhưng đồng thời cũng mang dáng dấp ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa
và Mã Lai. So sánh với các thành phần trang trí tinh xảo của kiến trúc giai
đoạn Java Cổ điển, thì các phù điêu Khương Mỹ đơn giản một cách thái quá, và
nội dung câu chuyện cũng được rút ngắn. Vì vậy nếu gán những cái khác biệt về
phong cách với “làn sóng mới ảnh hưởng của văn hóa Java”, thì mối liên hệ gần
gũi về phong cách với giai đoạn Java Cổ điển được minh chứng bằng những phù
điêu đầu giai đoạn Đông Java hơn là giai
đoạn Tiền Trung Java.
Bên cạnh những mối liên hệ ngoại vi với kiến trúc Java ở
phía Đông - Khương Mỹ còn có những bằng chứng thuyết phục về mối liên hệ phong
cách với các loại hình kiến trúc ở phía Tây. Quay lại phần cực nam của tiểu lục
địa ấn Độ, những trường ca Mahabharata và Ramayana thường được thể hiện bằng
các phù điêu trên phần móng của các ngôi đền ấn Độ giáo. Một tiêu bản và có thể
là nguyên mẫu của những gì tìm được ở Khương Mỹ là ngôi đền An Nam thuộc thánh
địa Mallikarijuna ở Dharmapuri, ấn Độ, được xây dựng nửa đầu thế kỷ thứ 9.
Các phù điêu về trường ca Ramayana tại Khương Mỹ thể hiện xu
hướng nghệ thuật của điêu khắc Chăm trong giai đoạn này, đồng thời cũng thể
hiện sự hiểu biết sâu sắc về sự phát triển của các trường ca bằng tiếng Phạn
tại khu vực Đông Nam á vào điểm giao thời này. Trong khi các đề tài nghiên cứu
trong những thế kỷ qua cố gắng kết nối các phiên bản nghệ thuật với các văn bản
văn học của trường ca, hai phù điêu hiếm hoi tại Khương Mỹ chỉ có thể được giải
thích một cách hợp lý thông qua sự hiểu biết thấu đáo về hai nhân vật chính mà
nó mô tả.
Rõ ràng là văn hóa Chăm cũng như văn hóa Java đã quá quen
thuộc với các phiên bản của trường ca bằng tiếng Phạn. Theo các tài
liệu văn bia, các thành viên của hoàng gia Chăm thời Indrapura đã từng tham gia
diễn kịch bằng tiếng Phạn (Lebonheur 1998: 269). Người Chăm trong nhiều thế kỷ
trước cũng rất tôn sùng Valmiki, nhưng rõ ràng đến thời điểm các tháp Khương Mỹ
được xây dựng, các phiên bản khác bằng tiếng Phạn của trường ca thậm chí được
phổ biến rộng rãi hơn ở các khu vực khác nhau. Hơn nữa, một phiên bản có thể đã
thâm nhập vào văn chương Chăm.
Những hình ảnh điêu khắc tại Khương Mỹ biểu lộ ba sự kiện
riêng biệt nhưng có tính liên tục. Hình ảnh đầu tiên là người phụ nữ quỳ gối trước
quỷ vương Ravana mười đầu đang ngồi kiểu “tọa trên ngai” trên một loại ghế
truyền thống mà tiếng Java gọi là amben. Dường như tay của Ravana chạm vào
người phụ nữ, và điệu bộ của hai nhân vật biểu thị nhân vật nữ đang khép nép
trước kẻ muốn cưỡng ép mình. Bên trái là những chi tiết của kiến trúc cung điện
và những cái đầu của lũ ái la sát nữ (raksasi) trong hậu cung của Ravana. Trong
hình ảnh thứ 2, Ravana đang rời khỏi hiện trường. Phần trên của cơ thể Ravana
nghiêng đi, các cánh tay nâng lên, các khuỷu tay gập lại gợi lên những chuyển
động rất nhanh, như thể hắn đang lao đi trong cơn giận dữ. Trong hình ảnh cuối
cùng, quỷ vương một lần nữa xuất hiện trong một ngôi đình cùng với một người
phụ nữ với chiều cao tương đương nhau, có thể là thủ lĩnh của đám ái la sát nữ
.
Cùng với việc sử dụng nguyên bản được phổ biến rộng rãi của
trường ca, rõ ràng là người Chăm đã chịu ảnh hưởng của các hình mẫu điêu khắc
khác để tạo nên hình ảnh dasamukha hay quỷ vương mười đầu tại Khương Mỹ. Tuy
nhiên, các hình ảnh điêu khắc mô tả cảnh Ravana làm rung chuyển núi Kalaisa
trên các tháp Chăm giai đoạn này thậm chí gần gũi với phiên bản gốc hơn.
Ngược lại, việc phát hiện những hình ảnh hiếm hoi tại Khương
Mỹ làm sáng tỏ thêm một phiên bản điêu khắc khác mới được phát hiện về cảnh
Vườn Asoka. Trong số các hiện vật bằng vàng phát hiện tại Wonobyo thuộc giai
đoạn Trung Java, có một cái bát hình trụ có 4 thùy. Mỗi thùy được trang trí
bằng hình thức dập nổi hình ảnh của đoạn trường ca Ramayana tương ứng với cảnh
được mô tả tại Khương Mỹ. Niên đại chiếc bát cũng tương ứng với niên đại của
các kalan tại Khương Mỹ. Hình ảnh phía sau mô tả một ông hoàng ngồi trên một
chiếc ghế amben, trước mặt ông hoàng là một người phụ nữ đang phủ phục, đầu cúi
thấp. Tương tự như trên các hình ảnh điêu khắc tại Khương Mỹ, người đàn ông
trên chiếc bát trườn tới để chạm vào người phụ nữ đang quỳ. Trong cảnh tiếp
theo người phụ nữ nằm trên ghế amben, tay đỡ lấy đầu biểu hiện vẻ thất vọng.
Chi tiết hai người phụ nữ nhìn xuống người phụ nữ đang nằm trên amben, vừa đơn giản nhưng cũng vừa tinh tế, hình ảnh
người đứng bên phải có ngón tay nhọn được cho là đang ở tư thế đe dọa. Hai nhân
vật trong hình ảnh phía trước và mối liên hệ với nội dung trường ca của hình
ảnh này trước đây chưa được xác định một cách nhất quán, nhưng với việc phát
hiện ra các phù điêu tại Khương Mỹ, hình ảnh này có thể được khẳng định là cảnh
mở đầu của cuộc đối mặt giữa Sita và Ravana, lúc này Sita đang ở trong tư thế
van xin. Hình ảnh tiếp theo trên chiếc bát Wonoboyo là cảnh kết thúc cuộc chạm
mặt: Sita bị nhiếc móc bởi các ái la sát nữ.
Cho dù xem đây là biểu hiện sơ khai của quan điểm “chủ nghĩa
bình quyền” hay là biểu tượng của niềm tin vĩnh cửu của dân tộc Chăm, những phù
điêu tại Khương Mỹ về Vườn Asoka vẫn là độc nhất vô nhị. Phong cách nghệ thuật
của Khương Mỹ cũng độc đáo không kém, vì nghệ thuật điêu khắc Chăm cũng chịu
những ảnh hưởng trực tiếp nhiều hơn từ nghệ thuật điêu khắc miền Nam ấn Độ so
với các nền văn hoá Đông Nam á khác đương thời. Các nhà nghiên cứu ngữ văn nhận
định rằng các bản trường ca ở Đông Nam á được thêu dệt nên từ những nguồn
nguyên liệu phong phú và đa dạng- các nhà nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử
nghệ thuật cũng nên nhìn nhận như vậy trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu – đó
là các nghệ nhân và kiến trúc sư ấn Độ giáo và Phật giáo Đông Nam á đã tạo nên
quan điểm nghệ thuật của mình từ những nguồn cảm hứng vô tận, và những quan
điểm này được biểu đạt bằng hình thức và môtif hình ảnh ở kiến trúc các ngôi
đền đơn lẻ cũng như các khu thánh địa.
Thanh Tùng - Thượng Hỷ
(biên
dịch)
|