E-mail        Print        Font-size  
  • CỔ VẬT ĐẸP, TRANH TƯỢNG ĐẸP

    Hổ đá. Lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình). 1264. Dài 140cm


    Sự xâm hại cần cấp cứu

    Thập kỷ 60-70 thế kỷ 20, ít năm sau hòa bình lập lại, đất nước vừa hàn gắn chiến tranh, vừa tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến mới chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Đế quốc Mỹ đánh ra miền Bắc ngày càng ác liệt. Ngành Văn hóa xây dựng Bảo tàng Cách Mạng tiếp quản Bảo tàng Louis Finot và Viện Viễn Đông Bác Cổ từ tay người Pháp, chuyển thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Thư viện Khoa học Xã hội. Sau khi xây dựng thành công Bảo tàng Mỹ thuật (1960-1966), nghiên cứu - sưu tầm được nhiều tác phẩm và hiện vật nghệ thuật quý giá. Nhưng nhìn chung, cũng không ít khó khăn thử thách. Di tích lịch sử - nghệ thuật đình, đền, chùa, lăng tẩm… bị xâm hại, tàn phá nặng nề. Hậu quả vừa do chiến tranh, vừa do con người vô ý thức đã hủy hoại, đặc biệt trong và sau cải cách ruộng đất. Phải rung chuông báo động đỏ. Cần có biện pháp ngăn chặn, cấp cứu kịp thời.

    1. Hổ đá chim thần thời Trần về Bảo tàng Lịch sử.

    Đó là hai báu vật còn sót lại tại khu lăng Thái sư Trần Thủ Độ (1194-1264), người sáng nghiệp nhà Trần, thuộc thôn Ngừ, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình. Hổ tạc theo thế nằm phủ phục đầu hơi ngẩng cao. Toàn thân dài 1m2, chiều cao tính từ đầu xuống chân 70cm. Chim thần tạc theo thế đứng chầu, bị đập vỡ hai cánh và đuôi. Chiều cao 50cm. Trước thực trạng bị mất trắng, là cán bộ sưu tầm - bảo quản của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1958-1960), người viết bài này đã cùng với người đồng nghiệp về thực địa di tích, nhanh chóng làm mọi thủ tục xin đưa hai cổ vật về Bảo tàng Lịch Sử. Mọi việc trót lọt. Hổ đá và chim thần nặng hàng tấn, không chậm trễ rời khu lăng hoang phế lên xe tải về Hà Nội trong niềm vui của cả cơ quan Bảo tàng. Nhưng vui hơn cả vẫn là hai phái viên sưu tầm - bảo quản, như hai thầy thuốc vừa cấp cứu được "con bệnh hiểm nghèo thoát tay thần chết". (Hiện bản đổ thạch cao nguyên mẫu hổ đá được trưng bày tại phòng mỹ thuật Trần - Hồ, Bảo Tàng Mỹ thuật Việt Nam cùng với đôi cánh cửa gỗ chạm rồng (chùa Trần, Tức Mạc, Nam Định). Bản gốc hổ đá, chim thần hiện đặt ở "Vườn điêu khắc - kiến trúc cổ Việt Nam" ngoài trời, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.


    Tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay chùa Hạ (Vĩnh Phú). 42 tay. Thế kỷ 16. Cao 327cm. Gỗ phủ sơn



    2. Cây hương đá Tứ Kỳ hồi hương về Bảo tàng Lịch sử.

    Cổ vật thuộc thôn Tứ Kỳ, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Đó là tác phẩm điêu khắc đẹp, độc đáo của một khu lăng thuộc thời Lê - Trịnh cuối thế kỷ 17, bị hủy hoại, chỉ còn một hiện vật duy nhất trong quần thể kiến trúc. Cây hương có chiều cao 2m6, bố cục gồm ba phần: bục bệ, thân trụ, lư hương trên đỉnh trụ, tạc theo khối hình trụ bát giác, cao 1m8 chưa kể bệ. Lư hương đá tạc trên đầu trụ là đôi rồng chầu mặt trời chạm nổi cuốn quanh. Đề tài trang trí là rồng, hạc, thú, tản vân, hoa lá, hình kỷ hà… Tác phẩm làm "năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Trị (1666), Lê Huyền Tông", thời Lê Trung Hưng. Trọng lượng chừng 1-2 tấn. Với phản xạ nghề nghiệp, tôi cũng nhanh chóng làm thủ tục xin chuyển về Bảo tàng Lịch sử. Đề nghị được chấp nhận. Thế là cây hương được cần cẩu đưa lên xe tải hồi hương về nơi "an nghỉ vĩnh hằng" mới. Tác phẩm hiện trưng bày tại "Vườn điêu khắc - kiến trúc cổ" ngoài trời, Bảo tàng Lịch sử.

    3. Cây đèn sắt hình "Lá đề - Cửu Long" hơn 100 tuổi.

    Là sản phẩm của một làng nghề rèn sắt truyền thống - làng Vân Tràng - cúng tiến cho đền Gin quê hương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Bố cục đèn là hai con rồng lớn uốn theo hình lá đề. Đèn nặng tới hàng tạ, gắn trên giá đỡ cặp rồng là bốn chân khá vững vàng. Hai đầu rồng hướng vào chính tâm chầu mặt trời. Phía trên mặt trời lại còn có một đầu rồng nữa cùng chầu theo thế "tam hợp". Trên lưng hai rồng lớn đối xứng hai bên, mỗi bên 9 rồng nhỏ được phân bố đều từ dưới lên trên, cộng với một con trên đỉnh lá đề là 19 con. Vẻ đẹp của tác phẩm là hình tượng lá đề với quần thể rồng mẹ rồng con bay lượn trong mây. Mỗi rồng con lại nhô ra trên lưng mẹ đỡ một đĩa đèn dầu (hay đèn nến). Thắp lên sáng lung linh tỏa hào quang "lá đề đức Phật". Về kỹ thuật: thế kỷ 19, người thợ rèn Việt Nam chưa dùng kỹ thuật hàn hơi, hàn điện, chỉ dùng nhiệt độ cao nung sắt mà tán ghép các bộ phận hợp lại mà vẫn đạt được độ chắc khỏe. Đó là một kỳ công của mỹ thuật thủ công nghề rèn truyền thống. Tôi ngỏ ý xin dân làng và các cấp chính quyền địa phương đưa về Bảo tàng Lịch sử giới thiệu với đồng bào Thủ đô và khách tham quan. Đề nghị được vui vẻ chấp nhận. Tết Nhâm Thìn 2012, Bảo tàng Lịch sử mở triển lãm "Con rồng Việt Nam qua các thời đại và chất liệu nghệ thuật" có trưng bày cây đèn sắt này. Tôi đến xem với niềm vui xúc động, nhìn lại hiện vật mình đã sưu tầm được bảo quản, đóng góp vào lịch sử văn vật đất nước.

    4. Đồ đồng cổ từ kho thu mua Đức Giang về kho Bảo tàng Hà Nội.

    Đó là những năm 1959 - 1960, Công ty Kim khí hóa chất (Bộ Nội thương) đưa ra chủ trương thu mua đồ đồng cũ, cổ, để sản xuất đồ dân dụng như đồ điện, vòi nước, quả đấm cửa... Một chiến dịch thi đua thu mua được phát động sâu rộng. Hậu quả kho đồ đồng đủ loại "chất như núi" tại Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội. Nổi bật trong số này là chuông, khánh, lư, đỉnh, tượng, tiền cổ… Hoặc còn nguyên, hoặc sứt sẹo, méo vỡ, hoặc đã đập ra nhiều mảnh. Với người làm bảo tàng lịch sử và nghệ thuật thật xót xa. Bất ngờ, ngành Bảo tàng được tin báo như sét đánh Bộ Văn hóa và Bộ Nội thương có cuộc họp khẩn cấp. Quyết định cuối cùng được đề ra: Trao cho Sở Văn hóa Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cử cán bộ chuyên môn giúp đỡ, lựa chọn ra những cổ vật có giá trị đưa về kho bảo quản, giành cho Bảo tàng Hà Nội sau này. Người viết bài này được cơ quan Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cử sang giúp đỡ. Tôi đã thuê một nhóm sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ ra trường chưa có việc làm, hướng dẫn họ cùng tôi tuyển chọn. Kết quả đã lựa ra được một số hiện vật khá đẹp, chuyển về kho Hưng Ký của Phòng Bảo tàng Sở Văn hóa Hà Nội. Cần mở một đấu ngoặc là trong nhóm sinh viên ngày ấy có hai người, sau này đều giữ trọng trách trong Bộ Ngoại giao. Đó là Lê Mai, Thứ trưởng (đã mất) và Nguyễn Bá Khuyến - giữ một chức vụ trọng yếu của Bộ trong Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

    Giờ đây, Bảo tàng Hà Nội đã được xây dựng quy mô, bề thế tại Mỹ Đình, gần khu Hội trường quốc tế của Việt Nam. Những cổ vật nghệ thuật được bày theo đề cương của những nhà nghiên cứu. Một cuộc "hồi sinh" không hẹn mà gặp. Nhưng những người làm bảo tàng sẽ ghi lý lịch cổ vật ra sao? Chắc chắn chỉ có ít dòng chung chung: "Đồ đồng cổ Việt truyền thống?".

    Một nỗi ám ảnh khôn nguôi với người làm bảo tàng. Nhưng với những cán bộ Nội thương thu mua đồ đồng cổ năm xưa, chắc sẽ còn ân hận mãi, không dễ gì hóa giải về sự thiếu ý thức, đã xâm phạm thô bạo kho tàng văn hóa – mỹ thuật của đất nước mình.

    Phật bà Quan âm thời Mạc, tranh danh họa về Bảo tàng Mỹ thuật

    1. Phật Quan âm rời chùa Hạ

    Từ năm 1960, theo lời mời của họa sĩ Viện trưởng Nguyễn Đỗ Cung, tôi từ Bảo tàng Lịch sử về tổ nghiên cứu Viện Mỹ thuật và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đang xây dựng do ông hướng dẫn. Năm 1964, tôi được Viện trưởng trao cho một nhiệm vụ thật nặng nề: "Nhờ đồng chí lên chùa Hội Hạ, xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, Vĩnh Yên, nơi có pho tương Phật bà Quan âm khá đẹp, thời Mạc. Tôi đã có dịp xem và tìm hiểu, mời đồng chí đến xem, nghiên cứu; nếu thấy được thì ta đề nghị nhà chùa và địa phương nhường cho Bảo tàng Mỹ thuật đưa về Hà Nội giới thiệu với nhân dân và quốc tế thì thật tốt". Ít lời ngắn gọn, cũng là cách mở cửa thế giới nghệ thuật cho người nghiên cứu trẻ tuổi lần đầu được đến một di tích quý hiếm chưa biết. Sau vài tuần làm công tác "dân vận" với nhà chùa, với nhân dân và các cấp chính quyền địa phương từ xã, huyện đến tỉnh, mọi thủ tục đã hoàn thành tốt đẹp. Nhưng việc tháo dỡ tòa tượng lớn lại là một kỳ công đối với cơ quan được trao tăng báu vật. Tôi trình bày với ông Viện trưởng cần phải có một thợ mộc giỏi lên điều khiển tháo dỡ tác phẩm mới an toàn. Thật may mắn Bảo tàng đang có một thợ mộc lão luyện là "Bác Cai Tường", vốn là thợ bậc cao, kỹ thuật 7/7 của hãng đồ gỗ nổi tiếng Mémo trước cách mạng (chủ nhân cửa hàng là cố họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc), đang giúp việc làm mô hình mẫu thu nhỏ nhà Bảo tàng Mỹ thuật cho tác giả công trình là họa sĩ Viện trưởng. Bác Tường đã hoàn thành xuất sắc việc tháo dỡ tòa tượng cổ. Tượng về tới Bảo tàng trong niềm vui khôn tả, đặc biệt với họa sĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung, tác giả đề cương trưng bày. Tác phẩm được đặt ở phòng Mỹ thuật thời Mạc (thế kỷ 16) gác 3 Bảo tàng. Để đưa được tượng lên gác 3 và lắp ghép lại hoàn chỉnh cũng là một kỳ công nữa của bác Tường và tập thể anh em trong cơ quan vận chuyển tượng. Bởi những bộ phận như thân tượng, tòa sen, bể khổ… đều nặng tới vài tấn và cồng kềnh, phải vượt qua 6 nấc cầu thang gỗ lim có chiều rộng 1m2, lại zích zắc, rất khó. Để đặt tượng có trọng lượng lớn, kiến trúc sư Nguyễn Xuân Phương đã tính sức chịu lực mặt sàn nhà phòng trưng bày an toàn.

    Năm 1966, Bảo tàng cắt băng khai mạc trọng thể. Nhưng chiến tranh ngày càng ác liệt, tượng phải "hạ sơn" đi sơ tán xa Hà Nội. Lần thứ nhất, rời đến ngôi đình làng thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên. Được một thời gian, sợ gần sân bay địch bắn phá, lại dời về một ngôi đình làng ven đê gần thị trấn Phùng, Đan Phượng, Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội). Hiệp định Đình chiến Paris về Việt Nam được ký kết. Tượng lại "đăng sơn" về Phòng Mỹ thuật Mạc gác 3 Bảo tàng. Nhưng gian truân thử thách chưa hết. Năm 1979 chiến tranh biên giới giữa nước láng giềng với Việt Nam lại nổ ra ác liệt. Lần này tôi được giao nhiệm vụ cầm lệnh của đích thân thủ tướng ký với nội dung áp tải "hàng sự cấm", bảo vệ nghiêm mật đi sơ tán thật xa, vào an toàn khu cao nguyên miền Nam Trung Bộ. Đó là núi rừng Lâm Đồng, Đà Lạt. Hết chiến tranh trước khi rời an toàn khu về Hà Nội, tôi được giao nhiệm vụ phối hợp với ty văn hóa Lâm Đồng tổ chức một triển lãm khá quy mô "Mỹ thuật Việt Nam xưa và nay", vừa để cảm ơn địa phương, vừa giới thiệu với đồng bào thành phố cao nguyên vừa giải phóng. Triển lãm được hưởng ứng nhiệt liệt. Người xem ngạc nhiên và thích thú lần đầu tiên được xem kho tàng mỹ thuật cổ dân tộc và mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ ngoài Bắc mang vào. Đặc biệt với đồng bào các tôn giáo và các dân tộc cao nguyên được xem pho tượng Phật Bà Quan Âm chùa Hạ. Một lần nữa tượng lại "xa giá hồi loan" về Bảo tàng Mỹ thuật. Mọi người nói vui: "Đức Phật vốn cứu khổ cứu nạn cho con người thoát trầm luân bể khổ mà sao Ngài lại gặp không ít gian nan lận đận trên đời này!".

    Gìn giữ được một tác phẩm nghệ thuật vô giá, độc đáo cho kho tàng lịch sử mỹ thuật dân tộc, đúng là một chiến công, một thắng lợi và niềm tự hào. Bởi: "Lịch sử là linh hồn của dân tộc, là sự an ủi trong lúc gian truân và là tia hy vọng trong lẽ sinh tồn của dân tộc" (L.Denis).

    2. Tranh sơn mài Nguyễn Gia Trí về Bảo tàng Mỹ thuật.

    Đó là tác phẩm được sáng tác trước Cách mạng Tháng 8 - 1945 của các họa sĩ tiền bối Mỹ thuật Đông Dương (1925-1945). Bảo tàng đã cất công sưu cầm, mua lại được một số của các gia đình tư nhân. Trong số này, phải kể đến tác phẩm sơn mài thuộc loại tranh chủ quý hiếm của danh họa Nguyễn Gia Trí - một trong những người đã khai hóa, phát triển, sáng tạo chất liệu nghệ thuật sơn mài truyền thống. Sau hòa bình, năm 1954 họa sĩ Nguyễn Gia Trí di cư vào Sài Gòn, Bảo tàng còn thiếu tác phẩm của ông. Thực tế Bảo tàng chỉ có một tác phẩm của Nguyễn Gia Trí "chép lại", mượn được bản gốc Thiếu nữ bên hoa phù dung của nhà sưu tập Đức Minh. Cần mở một dấu ngoặc là thời cải tạo tư sản công tư hợp doanh ông Đức Minh có thiện ý muốn trao tặng cả Bảo tàng tư nhân của mình cho nhà nước, trong đó có tác phẩm Nguyễn Gia Trí, chỉ với một đề nghị: bảo tàng được mang tên ông là ngôi biệt thự đẹp bên hồ Thiền Quang, Hà Nội. Nhưng lãnh đạo của Bộ Văn hóa (lúc đó là nhà thơ Thứ trưởng Cù Huy Cận đã từ chối, không tiếp nhận). Một cơ hội "ngàn năm có một" đã bỏ lỡ. Nhưng cũng thật may mắn. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Tranh Nguyễn Gia Trí còn bảo lưu tại Dinh Bảo Đại Đà Lạt. Người viết bài này, với tư cách là chuyên viên nghiên cứu của Bảo tàng, được trao nhiệm vụ lên Văn phòng Trung ương Đảng xin lệnh vào tiếp nhận tác phẩm của nhà danh họa. Tác phẩm gồm 8 tấm sơn mài là bức bình phong lớn. Mỗi tấm có kích thước 60x200. Đề tài "Phong cảnh vườn Việt Nam", kỹ thuật chủ yếu ráp vỏ trứng, cộng vàng son đen đỏ. Trong số 8 bức có 1 bức bị đạn xuyên thủng, nhưng rất may không phạm vào bố cục chính nên việc phục nguyên không gặp khó khăn. Tranh Nguyễn Gia Trí về Bảo tàng, như niềm vui "Châu về Hợp Phố".

    NGUYỄN GIA TRÍ - Phong cảnh - Bình phong sơn mài. 1939. 8 tấm. 400x160cm (mặt sau bình phong). Sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.



    3. Tranh lụa Lê Văn Đệ đồng hành về Bảo tàng Mỹ thuật.

    Tác phẩm mang tên Thiếu nữ gội đầu bên cầu ao, nhờ có người mách, người viết bài này được cử đến giao dịch với chủ sở hữu là một gia đình khá giả ở phố Hàng Bông, Hà Nội. Sau khi nói rõ mục đích ý nghĩa của việc sưu tầm cho Bảo tàng, gia đình có tranh đã đồng ý nhượng tác phẩm. Giá thỏa thuận lúc đó là 1 chiếc xe đạp Favorit Tiệp Khắc, mua bằng phiếu cung cấp của mậu dịch quốc doanh (chừng 2-3 chỉ vàng). Với giá mua thời điểm đó, đã là "khá giả" hơn người. Nhưng thật bất ngờ: tranh mang về tháo khung kính ra bảo quản, lụa dính chặt vào kính! Bóc ra lụa mủn từng mảng. Để duy trì nguyên trạng, cán bộ phục chế đành phải giữ nguyên tranh trên kính mà sao chép sang bản khác. Do đó, cũng như tác phẩm tranh lụa Chơi Ô ăn quan của danh họa Nguyễn Phan Chánh, tuy không bị rách nát, nhưng vì không có bản chính, Bảo tàng cũng phải phục chế từ bản gốc của nhà sưu tập Đức Minh (Sự lỡ hẹn đáng tiếc này tôi đã kể ở phần trên). Người phục chế hai tác phẩm của Lê Văn Đệ và Nguyễn Phan Chánh là bác Nguyễn Xuân Kế (đã mất).

    LÊ VĂN ĐỆ - Cô gái ngồi trên cầu ao - 1954.Lụa



    Thay lời kết

    Nhìn lại việc làm, tôi thực sự an lòng thấy có chút ít đóng góp nhỏ bé vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc.

    Trần Thức

Share:         LinkHay.com