E-mail        Print        Font-size  
  • NGUYỄN ĐỖ CUNG - HỌA SĨ, NHÀ NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT (1912-2012)

     

    Ngày 10 tháng 9 năm 1996, Chủ tịch Nước cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam đ ký Quyết định tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1) cho hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung với các tác phẩm: Du kích La Hai - bột màu (1947); Học hỏi lẫn nhau - sơn dầu (1960); Công nhân cơ khí - sơn dầu (1962); Chân dung Bác Hồ - sơn dầu (1946); Tan ca, mời chị em đi họp để thi thợ giỏi - sơn dầu (1976). Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đ nhận xt: Ơng l hoạ sĩ đồng thời là một nhà nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống của dân tộc, mở đầu cho việc đào tạo lớp các nhà nghiên cứu sưu tầm về lịch sử mỹ thuật Việt Nam, có công lớn trong việc xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Tác phẩm của ông trong thời kháng chiến ở Liên khu V đ phản nh được tinh thần anh dũng của quân và dân ta trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông đ cĩ những sự nghin cứu, tìm tịi sng tạo mới trong những tranh về lao động sản xuất công nghiệp, là những tc phẩm cĩ gi trị cao.

    Hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung sinh tháng 2 năm 1912, mất ngày 22 tháng 9 năm 1977. Quê ngoại tại Xuân Đỉnh, Từ Liêm Hà Nội. Ông có nhiều năm sinh sống tại 29 Hàng Hành, Hà Nội.

    Sau 2 năm học dự bị tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, năm 1929 ông thi đỗ vào khoá 5 (1929 - 1934) cùng với các hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí, Trần Bình Lộc, Phạm Hậu, Nguyễn Văn Long, Phạm Văn Thuần, Trương Đình Hiến v nh điêu khắc Trần Ngọc Quyên. Trong thời gian học tập, ông thích vẽ sơn dầu với những mảng lớn, nét khoẻ khoắn. Ông thích khắc gỗ, chất liệu này gần gũi với tranh dân gian và điêu khắc đình cha, đặc biệt ông rất thích lịch sử mỹ thuật. họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung dành nhiều thời gian đi thăm các di tích, chụp ảnh lấy tài liệu, chuyến đi thăm chùa Mật (Thanh Hoá) đ thu ht ơng đến với việc nghiên cứu nghệ thuật dân tộc, đây là cái mốc quan trọng cho sự nghiệp nghiên cứu và sáng tác của ông sau này. Năm 1933, ông đ sng tc bức tranh lụa Ơng đồ nho viết chữ và Chân dung em bé chăn trâu. Là người có tinh thần yêu nước, ngay từ năm 1930 ông đ tham gia rải truyền đơn của Đảng Cộng sản Đông Dương tại trường.

    Năm 1934, sau khi tốt nghiệp, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung dạy vẽ tại nhiều trường tư thục Hà Nội. Năm 1936 - 1937, ông phụ trách lớp sơn mài tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1936, ông là thư ký, sau đó làm tổng thư ký Hội Khuyến khích Mỹ thuật v Kỹ nghệ An Nam (SADEAI) đến năm 1940. Trong triển lm SADEAI lần thứ nhất, ơng đ trưng bày tác phẩm Cây chuối (sơn dầu) - đoạt giải ngoại hạng tại triển lm. Năm 1936, ông vẽ chế giễu Bảo Đại in trên báo Quốc gia bị chính quyền thực dân Pháp bắt phạt 100 quan tiền.

    Thời kỳ này, đáng chú ý l họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung viết rất nhiều bài báo về mỹ thuật như các bài “Tranh tết” (1936), “Xem phịng triển lm của họa sĩ Lê Phổ” (số Tết năm 1936) trên Hà Nội báo. Trên báo Ngày nay có các bài “Phịng triển lm 1937”, “Những hy vọng của triển lm năm nay về hội họa” (số 11 ngày 26/12/1937), “Tranh vẽ bằng sơn ta” (số 143 ngày 31/12/ 1938), “Những sự cải cách của Trường Mỹ thuật Đông Dương” (số 144 ngày 7/1/1939), “Những hy vọng về hội họa tại phịng triển lm năm nay”(số 193 ngày 23/2/1939), “Nguyễn Gia Trí “ (số 79 ngày 19/8/1944), “Cái hiếm có đáng quý khơng?” (số 90 ngy 4/11/1944)... Cc bi viết “Sống v vẽ” (đăng trên Xuân Thu nh tập năm 1942), hoặc “Nhân đọc cuốn Essais sur l'Art annamite / Mỹ thuật Đại La hay Mỹ thuật Lý” (đăng trn tạp chí Thanh Nghị số 96 ngy 16/12/1944)...

    Các bài viết “Nhân một câu chuyện về nghệ thuật” và “Cái hiếm có đáng quý khơng?”... của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đặt vấn đề và tranh luận về tính dân tộc trong nghệ thuật cổ và bút chiến với giảng viên dạy lịch sử mỹ thuật người Pháp Bezacier tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đồng thời tranh luận về vấn đề mỹ thuật Đại La hay mỹ thuật thời Lý. Nội dung bi viết tranh luận giữa quan niệm của học giả người Pháp cho rằng: các hiện vật cổ khai quật ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) và một số nơi khác là tác phẩm mỹ thuật Đại La thuộc thời kỳ phương Bắc đô hộ. Với những bằng chứng và lý lẽ của mình, ơng khẳng định những hiện vật đó thuộc về thời Lý - triều đại đầu tiên của nền độc lập dân tộc. Bài viết “Sống và vẽ” của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đ đề cập đến vấn đề thừa kế tính dân tộc trong mỹ thuật và xu hướng cách tân trong hội họa.

    họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, trong bài đăng trên báo Ngày nay, số 144 ngày 7/1/1939, mang tựa đề “Những sự cải cách của Trường Mỹ thuật Đông Dương”, cùng liên danh với các họa sĩ Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Hoàng Lập Ngôn, Lương Xuân Nhị và Nguyễn Khang nhằm chống Jonchère - giám đốc mới của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương- khi ông này tuyên bố có tính chất miệt thị các nghệ sĩ Đông Dương: "Cái giỏi của Đông Dương chỉ là một thứ khéo léo r rệt... tơi đi Hà Nội chuyến này chỉ muốn đào tạo những thợ mỹ thuật chứ không phải nhà nghệ sĩ". Trong bài báo viết: "Ông là một điêu khắc gia. Tôi mời ông hy chịu khĩ qua xem những đồ điêu khắc ở chùa Dâu, đình Đình Bảng, cha Cĩi, cha Keo hay đình Chu Quyến v mời ơng so với nt chạm tự cổ chí kim của Nhật Bản, hay những tc phẩm của ông (tức Jonchère - TKC), xem đằng nào thâm trầm, gân guốc và đặc sắc hơn, rồi lúc đó sẽ thong thả nghe ông tuyên bố lại". Bài báo đ tạo nn ln sĩng của văn nghệ sĩ trí thức phản đối thái độ thực dân. Qua việc này Jonchère đ cấm ơng đến Trường Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1940, Nguyễn Đỗ Cung đi Nhật Bản nghiên cứu về sơn mài và minh hoạ sách “Vang bóng một thời” của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông sáng tác bức Đọc trang lịch sử (sơn dầu).





    Từ năm 1941, ông vào Huế sống ở ng m hồn, dạy vẽ ở cc trường tư thục Thuận Hoá và Việt Anh, cùng với họa sĩ Nguyễn Đức Nùng tìm hiểu v vẽ cố đô Huế, tìm hiểu cc thp Chm ở phía Nam. Theo bi viết “Kỷ niệm về họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung ở Huế” của Ưng Thuyên: "Hồi ấy, thuốc vẽ sơn dầu bằng ống quá đắt, không mua nổi, nên anh phải vẽ theo lối "gouache" với lịng trắng trứng g v thuốc vẽ bột mua tại hiệu "La-ngu". Theo lối đơn giản này, anh đ sng tc được nhiều bức tranh mới mẻ. Chúng tôi đều tán thưởng bức Cửa Đông Ba với một đoạn trường thành (ngày nay ta vẫn gọi là bức Cổng thành Huế), bức Một góc lăng Minh Mạng dưới ánh chiều tà,... với những màu sắc linh động nói lên được nỗi buồn man mác xa xăm”... Ông Ưng Thuyên cịn cĩ một số bức tranh của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, ông viết: "Đó là bức Trai đàn ở Nam Giao dưới nắng và bức Ni Ngự từ những khĩm tre xanh dịm ln. Hai bức ny được treo tại phịng khch nh tơi v được lắm người thưởng thức, nhưng than ôi, hồi kháng chiến đầu năm 1947, nhà tôi đ bị bọn gian phi cướp sạch".

    Năm 1942, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung cùng với các họa sĩ khác như Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, đ vẽ cho cuốn “Nguyễn Du văn họa tập” trong đó họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung ở trang bìa cĩ tranh Mai hạc, ở cc trang trong cĩ Ru hm hm n, Rạng vẻ cn đai, đây là những minh họa đẹp công phu như là những bức tranh khắc gỗ. Ông cùng với Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Lương Ngọc, Đoàn Phú Tứ và Phạm Văn Hạnh ra “Xuân Thu nh tập”, vẽ trang đầu cho tập san. Minh hoạ bìa sch “Việt Nam cổ văn học sử” của Nguyễn Đổng Chi, minh họa sch “Ng hẻm”, “Nguồn sinh lực” v “Ngoại ơ” của Nguyễn Đình Lạp...

    Mùa thu năm 1943, ông tham gia hội đồng giám khảo về hội hoạ ở Hà Nội, rời Huế ông vẽ bức sơn dầu khá lớn nhan đề An Cựu sau một trận mưa. Năm 1944, ông trở lại Hà Nội hoạt động trong nhóm văn hoá cứu quốc bí mật cùng với Như Phong, Nguyễn Đình Thi v viết loạt bi cho bo Thanh Nghị. Ơng đọc nhiều sách báo triết học, tiếp cận với chủ nghĩa duy vật biện chứng và “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) của Đảng với ba nguyên tắc vận động văn hoá Việt Nam trong giai đoạn này là: Dân tộc hoá, Đại chúng hoá và Khoa học hoá. Khi trả lời phỏng vấn của báo Văn hoá mới, ông công khai tán thành chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác.

    Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung tham gia Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội, là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Văn hoá cứu quốc. Rất nhiệt tình trong cc hoạt động của Hội, đặc biệt là trong các công việc về mỹ thuật như: vẽ tranh cổ động tuyên truyền cho cách mạng. Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 10/1945 ông cùng các họa sĩ Mai Văn Hiến, Nguyễn Văn Khanh, Nguyễn Huyến đ được Chính phủ cách mạng giao cho nhiệm vụ vẽ giấy bạc. Đây là những tờ giấy bạc đầu tiên của cách mạng được Bộ tài chính phát hành trong cả nước vào ngày 30/11/1946 theo sắc lệnh phát hành đồng tiền cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 31/1/1946. Cuối năm 1945, ông tham gia Đoàn Văn nghệ Bắc bộ Việt Nam gồm 11 người trong Uỷ ban chấp hành do nhà văn Nguyễn Đình Thi lm Chủ tịch, nh văn Vũ Ngọc Phan làm Phó chủ tịch.





    Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I của tỉnh Hà Đông, cùng với các họa sĩ Huỳnh Văn Gấm và Nguyễn Phi Hoanh là ba đại biểu Quốc hội thuộc ngành mỹ thuật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (khóa này kéo dài suốt từ năm 1946 đến 1959). Cũng trong năm này ông được vinh dự cùng với họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim vào vẽ Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch theo giới thiệu của Hội Văn hóa cứu quốc. Ông đ vẽ chn dung Bc Hồ, Bc Hồ năm 1946, Hà Nội năm 1946.

    Thng 11/1946, ngay sau ngy khai mạc Triển lm Mỹ thuật tháng Tám được tổ chức tại Nhà hát lớn, Hà Nội (giới mỹ thuật coi đó là Triển lm Mỹ thuật Tồn quốc lần thứ nhất), v sau kỳ họp Quốc hội, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đ đi Nam tiến cùng với nhà thơ Xuân Diệu. Đoàn dừng lại hoạt động ở Tuy Hoà (Phú Yên) với các họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sỹ Ngọc, các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp. Khi tồn quốc khng chiến nổ ra phần lớn cc nghệ sĩ trn trở ra miền Bắc, chỉ cịn ơng v họa sĩ Văn Giáo ở lại công tác tại Phịng Lin lạc miền Nam Trung Bộ, phụ trch cơng tc lnh đạo văn hoá của Liên khu 5 bao gồm Quảng Nam, Quảng Ngi, Bình Định, Phú Yên. Liên khu 5 phải tự túc lương thực, phát triển thủ công nghiệp, giữ vững giao thông đường sắt dài 200km. Liên khu 5 được TW cho phép phát hành tín phiếu - ngang giá tiền tài chính để phát hành tại chỗ, nên ông được giao nhiệm vụ vẽ giấy bạc, vẽ tín phiếu. Ông cịn vẽ tranh tuyn truyền cổ động, vẽ chân dung, mở lớp đào tạo cấp tốc các họa sĩ trẻ. họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung cùng họa sĩ Văn Giáo tổ chức nhiều triển lm tranh lưu động phục vụ kháng chiến Liên khu V được ông Phạm Văn Đồng khi đó là Phó Thủ tướng ghi nhận là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận Văn hoá và được Bác Hồ tuyên dương toàn quốc.

    Năm 1947, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và chính thức vào Đảng tháng 1/1948, ông được bầu làm Bí thư chi bộ Văn hoá miền Nam Trung Bộ, Chủ tịch Liên đoàn Văn hoá kháng chiến liên khu cho đến khi ra Bắc. Trong thời kỳ này cùng với Văn Giáo, Nguyễn Văn Bổng, Tế Hanh, Phan Cao … đ gĩp phần xy dựng phong tro văn hoá cho Liên khu 5. Năm 1947, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung vẽ nhiều tranh bột màu trong đó có một số tác phẩm được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam như: Du kích La Hai (cịn gọi l Du kích tập bắn); Phú Yên VK 50, Mặt trận An Khê (Hang Ông Cọp); Làm kíp lựu đạn, Vệ quốc quân, Nữ du kích Phú Yên, Phá hoại ở Phú Phong,v.v. - cho thấy ý chí chiến đấu kiên cường của quân và dân Khu V chống thực dân Pháp, xây dựng cuộc sống tự túc, tự cấp, bảo vệ một vùng tự do rộng lớn của kháng chiến. Bút pháp trên tranh bột màu của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung khoẻ khoắn, dứt khoát và truyền cảm với những mảng màu lớn và độ sáng tối mạnh, màu sắc trầm ấm tạo được ấn tượng và xúc cảm cho người xem tranh. Cũng trong năm này, ông sáng tác tác phẩm Chân dung Bác Hồ - khắc gỗ (17x12,5cm) nằm trong bộ sưu tập của gia đình.

    Tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc năm 1948, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung tuy không có điều kiện ra dự nhưng vẫn được bầu vào Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam đại diện cho cực nam Trung Bộ cùng với các họa sĩ Trần Văn Cẩn, Huỳnh Văn Gấm (đại diện cho Nam Bộ). Tháng 7/1949, ông được điều động ra Việt Bắc, trên đường qua Thanh Hoá, ông dự Đại hội Văn nghệ Liên khu IV và tham dự triển lm hội hoạ Khu IV, triển lm trưng bày 40 tác phẩm hội hoạ kháng chiến và đem trưng bày các nơi trong khu, được công chúng rất hoan nghênh. Tại Việt Bắc ông công tác tại tiểu ban văn nghệ TW làm Uỷ viên thường vụ Hội văn nghệ Việt Nam, và tham gia dạy ở trường Mỹ thuật Ông đ tham gia cuộc tranh luận về hội hoạ ở Việt Bắc, phát biểu quan điểm về triển vọng phát triển của sơn mài. Ông dẫn đầu tổ văn nghệ sĩ đi Chiến dịch Trung du (mặt trận 3), mở lớp dạy vẽ chiến sĩ và sáng tác bức tranh Tích cực chuẩn bị phản công (bút sắt).

    Năm 1950, ông đi Chiến dịch Biên giới, vẽ loạt tranh bướm tuyên truyền, trên tranh có kèm theo thơ lục bát để động viên chiến sĩ, phác thảo tranh Kể chuyện dân công trên chiến trường Cao Lạng. Sau đó về công tác ở Báo Nhân dân. Năm 1951, tham gia Đoàn thanh niên Việt Nam đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên quốc tế ở Berlin Cộng hoà dân chủ Đức. Năm 1953, ông tham gia đoàn triển lm kinh tế Việt Nam ở Cộng hồ dn chủ Đức và Ba Lan. Năm 1954, tham gia cải cách ruộng đất ở Thái Nguyên, vẽ được nhiều hình nghin cứu v ký hoạ về nơng dn v địa chủ.

    Hồ bình lập lại họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung cùng đoàn quân chiến thắng từ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô, và được điều động phụ trách bộ phận Bảo tồn văn vật của Bộ tuyên truyền (sau này là Bộ Văn hoá). Ông tham gia Ban tổ chức triển lm mỹ thuật Tiệp khắc ở H Nội (1956), l thnh vin trong đoàn đi Ấn Độ tổ chức cuộc trưng bày về nghệ thuật Phật giáo Việt Nam ở Ấn Độ. Tháng 3/1957, ông tham gia Đại hội thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam - Đại hội lần thứ nhất nhiệm kỳ 1957 - 1983, đựơc Đại hội bầu vào Ban chấp hành và Ban chấp hành bầu vào Ban thường vụ Hội.

    Năm 1959, ông sáng tác bức tranh cổ động Bảo vệ hoà bình chống chiến tranh hạt nhn. Năm 1960, ông tham dự Triển lm Mỹ thuật Tồn quốc - tc phẩm Học hỏi lẫn nhau (sơn dầu). Năm 1961, tại cuộc thảo luận về mấy vấn đề lý luận cơ bản do Vụ nghệ thuật thuộc Ban Tuyên giáo TW Đảng tổ chức ông đ cĩ tham luận “Mấy ý kiến sử dụng vốn” - nhằm đề cao nghệ thuật dân tộc và địi hỏi sự quan tm của lnh đạo và những người sáng tác đối với di sản của cha ông. Năm 1962, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật - Mỹ nghệ mới thành lập, và chính ông là người đặt nền móng cho việc xây dựng Viện nghiên cứu mỹ thuật, sưu tầm tác phẩm và xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, chỉ đạo việc cải tạo ngôi nhà kiến trúc hiện đại là ký tc x nơi ở cho con gái các quan chức thực dân từ khắp Đông Dương về học ở Hà Nội. Công trình cải tạo kiến trc v xy dựng Bảo tng Mỹ thuật Việt Nam được hoàn thành năm 1965. Cho đến nay nó vẫn được đánh giá là một cơng trình mỹ thuật đẹp nhất của Hà Nội. Ông đ tổ chức nhiều cuộc khảo st thực địa các di tích mỹ thuật để lấy tư liệu cho việc viết “Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam”. Cùng thời gian này, ông viết nhiều bài nghiên cứu, trong đó xác định một nền Mỹ thuật thời Mạc, Mỹ thuật thời Tây Sơn. Suốt một thời gian dài nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Mỹ thuật - Mỹ nghệ, ông đ gĩp phần đào tạo nhiều cán bộ nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt là các cán bộ nghiên cứu mỹ thuật cổ như Thái Bá Vân, Nguyễn Hải Yến, Trần Thức, Nguyễn Bích, Nguyễn Tấn Cứ, Đặng Thế Minh … Nhiều họa sĩ và nhà điêu khắc được làm việc với ông trong thời gian ở Viện Mỹ thuật - Mỹ nghệ có hiểu biết sâu sắc về vốn mỹ thuật dân tộc, đ trở thnh những nh điêu khắc tài năng: Trần Tuy, Tạ Quang Bạo.

    Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung có loạt bài nghiên cứu: “Vấn đề áp dụng vốn cũ dân tộc trong Mỹ thuật” (1960), “Khái quát về nghệ thuật cổ của nhân dân Việt Nam” (1961), “Những di sản kiến trúc cổ Việt Nam” (1962), “Kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc để sng tạo một nền nghệ thuật tạo hình x hội chủ nghĩa của Việt Nam” (1969)...

    Ông tham gia thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, giữ cương vị Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cho đến khi mất.

    Năm 1968, ông được Bộ Văn hoá giao chỉ đạo xây dựng “Đề cương Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI đến XVIII”. Sau này Viện nghiên cứu Mỹ thuật đ ra mắt cc cuốn “Mỹ thuật Ly”, “Mỹ thuật Trần”, “Mỹ thuật L”, “Mỹ thuật Mạc”, với nhiều bi nghin cứu được viết dưới thời làm việc của ông. Đặc biệt từ năm 1968 đến năm 1972 Viện Mỹ thuật - Mỹ nghệ do ông đứng đầu đ ra tập san Mỹ thuật. Tập san đ ra được 13 số, trong đó có mười số in rônêô và ba số in tipô. Tập san Mỹ thuật có rất nhiều bài nghiên cứu về mỹ thuật cổ Việt Nam cĩ gi trị, l nền mĩng của nghin cứu mỹ thuật cổ sau ny.

    Có thể kể thêm một số bài viết của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung từ sau ngày hoà bình lập lại như: “Vấn đề áp dụng vốn cũ dân tộc trong mỹ thuật” (1960), “Khái quát nền nghệ thuật cổ của nhân dân Việt Nam” (1961), “Những di sản kiến trc cổ Việt Nam” (1962), “Mấy ý kiến sử dụng vốn cổ” (1962), “Tìm hiểu v pht triển vốn cũ của nghệ thuật dn tộc” (1963)... Cc bi viết cho thấy ơng l một trong những người có công đầu nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam, và là một nhà nghiên cứu mỹ thuật uyên bác, tài năng. Không những thế ông cịn cĩ cơng đào tạo một lớp người nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam có tiếng sau này.

    Năm 1970, ông đứng đầu Tiểu ban biên soạn sách “Thuật ngữ Mỹ thuật” (Pháp - Việt, Việt - Pháp - có chú thêm tiếng Nga), cuốn sách đ được Nhà xuất bản Khoa học X hội xuất bản thng 12/1970.

    Năm 1971, ông tham gia chỉ đạo thiết kế trang trí mỹ thuật phần đặt linh cữu trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và vẽ bức tranh Xây dựng hịa bình (bột mu).

    Năm 1972, sau nhiều năm nghiên cứu, sưu tập, họa sĩ - nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung cùng với các cán bộ của Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đ tổ chức triển lm Phin bản điêu khắc đình lng (chạm khắc đình - cha lng). Triển lm đ khẳng định một mảng điêu khắc cực kỳ quan trọng của nền điêu khắc dân gian Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều hoạ sĩ, nhà điêu khắc trong quan niệm nghệ thuật dân tộc cũng như trong sáng tác các tác phẩm mới.

    Năm 1973, ông nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, ông đ đi vẽ thực tế ở nhà máy dệt 8- 3, lấy tài liệu sáng tác bức tranh Tan ca, mời chị em đi họp để thi thợ giỏi (sơn dầu), bức tranh này đ tham dự Triển lm Mỹ thuật Tồn quốc năm 1976 và đ nhận được giải A. Ông cịn tham gia đi vẽ khu vực di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội. Đáng ch ý l cc bức ký hoạ Nh Bc Hồ 1, Nh Bc Hồ 2, Nh Bc Hồ 3...

    Năm 1977, ông tham dự triển lm Mỹ thuật Việt Nam ở Cộng hồ dn chủ Đức với các tác phẩm: Tan ca, mời chị em đi họp để thi thợ giỏi, Bộ phận tẩy vải, Công nhân cơ khí.

    Cĩ thể nĩi họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung từ những bức tranh bột màu vẽ công nhân trong các công binh xưởng năm 1947 và những bức tranh về công nhân của những năm 1960 đ đưa ông vào vị trí những họa sĩ hàng đầu vẽ về đề tài công nghiệp Việt Nam với nhân vật người công nhân làm trung tm sng tc.

    Cũng trong thời gian nghỉ hưu, bên cạnh việc sáng tác tranh ông cịn tham gia hướng dẫn, dạy vẽ cho các cháu thiếu nhi ở Nhà văn hoá Thiếu nhi Thủ đô (cho đến khi mất), tham gia bình tranh v chọn tranh của cc chu gửi tham dự cc cuộc thi trong nước và quốc tế.

    Trong qu trình cơng tc họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đ được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba (1952), Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất (1977), Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam.

    Hồi 16h ngày 22/9/1977, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung từ trần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Linh cữu quàn tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật và được an táng tại nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.

    họa sĩ - Nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung là một chiến sĩ trên mặt trận văn hoá nghệ thuật của Đảng, với tính cách thẳng thắn, bộc trực nhưng cũng rất khiêm nhường và có nếp sống giản dị. Ông là một họa sĩ tài danh, một nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam uyên thâm, đ đặt nền móng cho việc nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam. Ông đ cĩ cơng xy dựng Bảo tng Mỹ thuật Việt Nam, Viện nghin cứu Mỹ thuật Việt Nam với một đội ngũ nghiên cứu đông đảo.

    T.K.C

Share:         LinkHay.com